THỪA THIÊN HUẾ (2)

Minh Mạng với chùm thơ cha truyền con nối
Để phân biệt dòng chính, dòng thứ, giữ kỷ cương trong hoàng tộc và bảo đảm trật tự trong hoàng
gia, vua Minh Mạng sau vài năm lên ngôi, đã sáng tác chùm thơ Đế Hệ Thi (1 bài) và Phiên Hệ Thi
(10 bài), mỗi bài có 20 chữ (Ngũ ngôn). Đế Hệ Thi là bài thơ gồm những chữ đầu sẽ đặt tên cho
con, cháu, chắt,… thuộc dòng chính (trực hệ của vua Minh Mạng):
Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh
Bảo, Quý, Định, Long, Trường
Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật
Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương.
Như thế các con trai của vua Minh Mạng đều có tên bắt đầu bằng chữ Miên: Miên Thẩm, Miên
Trinh,… Các cháu nội trai của vua Minh Mạng đều có tên bắt đầu bằng chữ Hồng: Hồng Bảo, Hồng
Nhậm,… Các chắt nội trai đều bắt đầu bằng chữ Ưng: Ưng Lịch, Ưng Đăng,…
Cứ thế mà tiếp tục cho đến chữ thứ 20.
Phiên Hệ Thi là 10 bài thơ do vua Minh Mạng dành tặng cho nnhững anh em ruột của mình (cùng
con vua Gia Long). Chẳng hạn bài Phiên Hệ Thi do vua Minh Mạng tặng cho Định Viễn Quận
Vương (con thứ 6 của vua Gia Long):
Tịnh, Hoài, Chiêm, Viễn, Ai
Cảnh, Ngưỡng, Mẫu, Thanh, Kha
Nghiễm, Khác, Do, Trung, Đạt
Liêu, Trung, Tập, Cát, Đa.
Từng thế hệ của con cháu Định Viễn Quận Vương cũng theo đó mà đặt tên cho mình. Mỗi chữ, mỗi
câu trong các bài thơ đều có ý nghĩa tốt đẹp mà vua Minh Mạng chọn lọc.
Sáng tạo nên chùm thơ này, vua Minh Mạng có ước vọng, khao khát ngai vàng được bảo
đảm”Truyền tử lưu tôn” ít nhất 20 đời. Thế nhưng mới đến năm 1945, đời thứ 5 là Vĩnh Thụy (vua
Bảo Đại) thì sự nghiệp cha truyền con nối đã chấm dứt bằng Cách Mạng Tháng 8. Kể ra giấc mơ
của vua Minh Mạng cũng đã khá dài: hơn một thế kỷ!
Cửu Vị Thần Công
Chín cỗ thần công này được đúc từ thời Gia Long thứ II (1803) với nguyên liệu là những mảnh đồng
thu được từ triều Tây Sơn như một chiến lợi phẩm. Nhà vua lấy tứ thời: Xuân, hạ, thu, đông và Ngũ
hành : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ đặt tên cho 9 khẩu súng.
Năm Gia Long thứ 15 (1816) nhà vua phong tước Thần Oai Vô Địch Thượng Tướng Quân.
Mỗi khẩu nặng từ 10.200kg đến 10.600kg, dài 5,1m, đường kính 0,22m, phía sau là chỗ lớn nhất

rộng 0,6m. Trên khẩu thần công được chạm trổ tỉ mỉ. Người ta còn khắc trên khẩu súng những chi
tiết như tên, trọng lượng, cách dùng đạn dược, tên người chỉ huy đúc và bài ký kể công việc đánh
nhà Tây Sơn cùng việc thu đúc súng.
Mỗi cỗ được đặt trên giá gỗ dài 2,75m, cao 1,73m, có bánh xe để di chuyển và được chạm trổ đẹp.
9 cỗ súng này là vật tượng trưng, được xem như là thần linh bảo vệ Kinh Thành và Hoàng Thành
chứ không dùng để đánh trận.
Đại Nội (Hoàng Thành và Tử Cấm Thành)
Đại Nội ngày nay là nơi mà Chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691) đã xây dựng thủ phủ của Đàng
Trong vào năm 1687 khi ông dời thủ phủ từ làng Kim Long về. Sau đó thủ phủ Phú Xuân được dời
đi nơi khác.
Đến thời Gia Long sau khi chọn Phú Xuân làm kinh đô cho cả nước thống nhất vào năm 1802, nhà
vua lại dùng vị trí ấy để xây dựng một số cung điện đơn giản dành cho Hoàng gia ăn ở và triều đình
làm việc. Năm 1904, Vua Gia Long đã giao cho hai đại thần Nguyễn Văn Chương và Lê Chất đứng
ra điều khiển công tác xây dựng Đại Nội, bao gồm Hoàng Thành và Cung Thành. Cung Thành nằm
trong lòng Hoàng Thành. Vào năm 1822 dưới thời Minh Mạng (1820-1840) Cung Thành được gọi là
Tử Cấm Thành.
Đại Nội trước đây xây theo hình gần vuông, mỗi cạnh dài khoảng 600m, diện tích khoảng 37,5ha.
Thành xung quanh xây bằng gạch cao 4m, dày 1m, bên ngoài thành có hệ thống hào gọi là Kim
Thuỷ hồ để bảo vệ thành. Mỗi mặt thành trổ ra một cửa để ra vào. Như vậy tổng cộng có 4 cửa. Có
10 cầu đá bắc qua hào để thông thương trong ngoài.
Mặt bằng Đại Nội có hàng trăm công trình kiến trúc với nhiều khu vực khác nhau như nơi cử hành
đại lễ, khu vực thờ phụng các vua chúa Nguyễn, khu ăn ở của mẹ vua, khu vực nhà kho, khu học
tập, khu vui chơi của các hoàng tử… Khu vực quan trọng và rộng lớn nhất nằm ở trung tâm Đại Nội
là Tử Cấm Thành.
Tử Cấm Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi cạnh gần 300m,vòng tường bao quanh cao 3,5m ngăn
cách nơi sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia với bên ngoài. Trong khu vực này có hơn 50 công
trình kiến trúc các loại, nhiều cung điện vàng son lộng lẫy.
Về nghệ thuật kiến trúc của Đại Nội nói chung, có thể nêu ra mấy đặc điểm như sau:
• Bố cục mặt bằng kiến trúc rất chặt chẽ, đăng đối. Phần lớn các công trình kiến trúc đều đối xứng
từng cặp qua đường trục chính và ở những vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ, nhất quán. Các con
số 9 và 5 trong Kinh dịch đã được sử dụng nhiều trong kiến trúc vì nó ứng với mạng Thiên Tử.
• Các công trình kiến trúc đã biểu hiện rõ tư tưởng độc tôn nhân quyền. Tử Cấm Thành là một tiểu
vũ trụ của Hoàng Gia, trong đó có đầy đủ mọi tiện nghi sinh hoạt như ăn, ở, làm việc, giải trí. Điện
Càn Thành, nơi nhà vua ăn ngủ, tọa lạc ở trung tâm vũ trụ đó.
Bốn cửa vào Hoàng Thành là:
-Cửa chính Ngọ Môn dành cho vua khi ra vào Thành có đoàn ngự đạo đi theo trong những dịp quan
trọng.
-Cửa sau phía Bắc là cửa Hoà Bình dành cho vua đi chơi hoặc đi đánh giặc, ý muốn luôn có sự hòa
bình.
-Cửa bên trái phía Đông là cửa Hiển Nhơn dành cho nam giới với ý đã là người nam thì phải có
công danh hiển vinh trong xã hội.
-Cửa bên phía Tây là cửa Chương Đức dành cho nữ giới với ý nhắc người phụ nữ phải giữ đức
hạnh.
Hoàng Thành được xây dựng từ năm 1804-1833.

Ngọ Môn
Ngọ Môn vừa là cổng chính vừa là bộ mặt của Đại Nội. Ngọ Môn được xây dựng vào năm 1833 khi
vua Minh Mạng cho quy hoạch lại mặt bằng tổng thể trong Đại Nội.
Vì Kinh dịch quy định vua bao giờ cũng quay về hướng Nam để cai trị thiên hạ, vì vậy Ngọ Môn
được xây dựng trên trục Bắc – Nam. Do đó triều Minh Mạng đã đặt cho cổng này là Ngọ Môn thay
vì tên cũ là Nam Khuyết Đài. Ngọ Môn nên được nghĩ là cổng phía Nam với ý nghĩa không gian chứ
không nên cho rằng “Ngọ” ở đây mang tính thời gian là giờ Ngọ - lúc mặt trời đứng bóng giữa ngày.
Ngày xưa cổng thành đóng quanh năm, chỉ mở ra khi vua ra vào Hoàng Thành có đoàn ngự đạo đi
theo và trong những dịp tiếp sứ thần ngoại quốc hay những dịp lễ quan trọng. Tuy nhiên Ngọ Môn
không chỉ là cái cổng mà nó là tổng thể của một lối kiến trúc khá phức tạp. Bên trên có lầu Ngũ
Phụng được xem như một lễ đài dùng để tổ chức một số cuộc lễ hàng năm của triều đình như lễ
Truyền Lô (đọc tên các sĩ tử đổ tiến sĩ), lễ Ban Sóc (phát lịch), lễ duyệt binh… Và đây cũng nơi diễn
ra cuộc lễ thoái vị của vua Bảo Đại ngày 30/8/1945.
Về mặt kiến trúc, có thể chia Ngọ Môn làm hai hệ thống: Hệ thống nền đài bên dưới và hệ thống
Lầu Ngũ Phụng bên trên. Mặc dù cả hai được thiết kế ăn khớp nhau từ tổng thể đến chi tiết.
Hệ Thống Nền Đài
Cao gần 5m, xây trên mặt thành hình chữ “U” vuông góc. Đáy dài 57,77m và cánh dài 27,06m, vật
liệu kiến trúc chính bằng đá vồ, đá thanh và đồng thau. Ở phần giữa có ba lối đi song song: Ngọ
Môn dành cho vua đi, Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn và quan võ. Trong lòng
mỗi cánh hình chữ”U” trổ một lối đi như đường hầm gọi là Tả và Hữu Dịch môn dành cho lính tráng
và voi ngựa. Ở phần trên của năm lối đi đều xây cuốn thành vòm cao, nhưng riêng ở hai đầu ba lối
đi giữa có kết cấu những hệ thống xà ngang và xà dọc bằng đồng thau với tiết diện 15 x 12cm để
gia cố cho sự chịu lực từ Lầu Ngũ Phụng
Từ mặt đất người ta đi lên nền dài bằng hai hệ thống tam cấp xây bằng đá thanh ở hai bên, nằm lộ
thiên nhưng rất kín đáo.
Quanh trên nền đài là hệ thống nữ tường (tường hoa, lan can) được trang trí bằng kiểu gạch hoa
đúc rỗng tráng men ngũ sắc.
Hệ thống lầu Ngũ Phụng
Lầu Ngũ Phụng có hai tầng, dưới lớn trên nhỏ. Bộ sườn làm bằng gỗ lim. Lầu gồm chín bộ mái lợp
ngói ống tráng men vàng và xanh. Ngói được lợp theo kiểu âm dương. Lầu dựng ở trên cao 1,14m
xây trên đài. Toà nhà lầu có 100 cây cột chẵn, trong đó có 48 cột ăn suốt cả hai tầng. Số 100 này
cũng là con số hướng về đất tổ. Hơn nữa nó cũng tượng trưng cho 50 âm và 50 dương cộng lại thể
hiện cho âm dương hài hoà. Đâu có âm dương hài hoà thì ở đó có vạn vật sinh sôi nảy nở. Ngói
vàng hoàng lưu ly cho vua vì vua là minh thổ mà đất lại màu vàng nên nhà ở của vua lợp vàng, áo
vua cũng màu vàng (Hoàng Bào)…
Mái tầng dưới đơn giản, nối liền chạy quanh khắp các phía để che mưa nắng cho các dãy hành
lang. Nhưng ở tầng trên thì mái chia ra thành 9 bộ khác nhau, trong đó bộ mái ở giữa cao hơn 8 bộ
mái hai bên. Xung quanh các phía tầng dưới đều để trống trừ toà nhà chính giữa có các hệ thống
cửa gương ở mặt trước. Còn ở tầng trên thì mặt trước nhà giữa dựng lá sách, chung quanh nong
ván, nhưng có trổ nhiều cửa sổ với nhiều dạng khác nhau như hình tròn, hình quạt, hình cái cánh…
Tổng thể hệ thống Ngọ Môn như vòng tay chủ nhân đón chào khách vào. Sở dĩ có hình chữ “U” và
hệ thống Lầu Ngũ Phụng đươc chia làm 9 bộ mái lớn nhỏ, cao thấp là để tránh sự nặng nề của một
công trình kiến trúc hình khối khá đồ sộ. Hơn nữa đây là một công trình kiến trúc được đánh giá cao
về tính thiên nhiên. So với Trung Quốc,khoảng từ Thiên An Môn đến Ngọ Môn rất rộng lớn. Ngọ

Môn có 5 cửa nằm trên đường thẳng tượng trưng cho ngũ hành nhưng nhìn vào lạnh lùng, uy nghi,
u tịch. Trong khi đó Ngọ Môn ở Huế có ao hồ, mặt nước, cây cảnh hài hòa. Các vua không khéo
đưa thiên nhiên vào kiến trúc ngoài những kỹ thuật mài giữa đá, gạch, trang trí hoa lá… Chính nó
đã làm cho kiến trúc Ngọ Môn trở nên mềm mại, cảm giác không nặng nề mà nhẹ nhàng. Dù là học
tập nhưng có sự sáng tạo hơn về thiên nhiên, nên không thể đánh giá vua Minh Mạng lấy toàn bộ
kiến trúc Ngọ Môn Trung Hoa vào đây. Đó là sự sáng tạo độc đáo của kiến trúc nhà Nguyễn.
Số 5 tượng trưng cho Ngũ Hành, số 9 trong Kinh dịch ứng với mạng Thiên Tử và số 100 là số cộng
của Hà Đồ và Lạc Thư.
Gạch tráng men được vua Thành Thái mua từ Pháp về thay vào. Hệ thống cửa kính được thay thế
từ thời Khải Định. Chuông đúc năm 1822 thời Minh Mạng. Bên trong lầu Ngũ Phụng phần dưới có
bức ảnh nói lên quang cảnh của Lễ Truyền Lô. Hai bên là các quan thuộc Bộ Học và Bộ Lễ, giữa là
các ông Nghè đỗ Tiến sĩ. Vua ngự chính giữa hai chữ Ngọ Môn (ngày xưa bằng vàng, nhưng đã bị
mất năm 1942 cùng với tượng Phật bằng vàng ở chùa Thiên Mụ). Chúng ta còn thấy các quan cận
thần, quan văn, quan võ và quan truyền lô – người thay mặt vua đọc các chiếu chỉ sắc phong. Ngoài
ra còn có mặt các quan lại địa phương lên để rước các ông Nghè về bái tổ.
Có cả sơ đồ buổi lễ thiết triều trên Ngọ Môn và cả danh sách các vị tiến sĩ của triều Nguyễn. Triều
Nguyễn có 32 khoa thi, khoa đầu tiên năm 1822, khoa thi cuối cùng năm 1919 dưới thời Khải Định
và chọn ra được 293 vị tiến sĩ. Nguyên tắc không phong Trạng nguyên nên người đỗ đầu bảng gọi
là Tiến sĩ đệ nhất giáp.
Thành Huế được xây dựng theo kiến trúc Vouban, thành đầu tiên theo kiểu này là thành Gia Định.
Trong Hoàng cung xưa có trên 1000 công trình kiến trúc và được quy hoạch xây dựng trong 27 năm
trải qua hai đời vua. Nguyên là 1200 công trình, bây giờ chỉ còn sót lại 480 công trình và ta chọn lọc,
quy hoạch bảo tồn 350 hạng mục công trình.
Ngọ Môn được UNESCO tài trợ 100.000USD để tái thiết. Công trình tu sửa được bắt đầu từ 1993,
đến nay mới hoàn thành.
Trước khi vào Hoàng cung chúng ta phải qua một cái hồ gọi là hồ Kim Thủy phía trước Ngọ Môn,
bên ngoài là hồ Thanh Hà. Trong Hoàng cung cũng có nhiều hồ nữa như Thái Dịch… Ngày xưa có
quy định ai đi qua Ngọ Môn cũng phải xuống ngựa và tháo nón ra.
Đối với triêu Nguyễn có hai vấn đề thuộc nội tộc được quy định từ thời Gia Long, đó là:
Một không lập Thái Tử
Hai không phong tước vương cho anh em vua tránh tình trạng con cái tranh giành lẫn nhau hoặc
anh em nổi lên chống lại nhà vua.
Có 3 luật chính kéo dài từ thời vua Minh Mạng đến thời Bảo Đại là:
Nội cung vô Hoàng Hậu
Triều đình vô Tể tướng
Thi cử vô Trạng nguyên.
Đó là bài toán mà Minh Mạng giải được để tránh tình trạng lũng đoạn triều đình. Hơn nữa Minh
mạng cũng ra lệnh: “Nội thân ngoại thích”, tức bên Nội mới được tham gia triều chính và thái giám
chỉ là người phục dịch trong nội cung chứ không được là người đưa tin giữa các vua với các thần
khác. Tuyệt nhiên thái giám không được tham gia vào việc triều chính. Điều này đã được ghi vào
Văn Miếu và khắc ở Kinh sách.
Hồ Thái Dịch
Được xây dựng năm 1833, hồ ngăn cách Ngọ Môn và sân Đại Triều Nghi. Hồ hình chữ nhật, ngang

76,5m, rộng 46m. Chung quanh hồ có xây lan can bằng gạch men trang trí hoa văn. Hồ được trồng
sen, ven hồ trồng sứ, dưới hồ thả cá cho vua ngắm.
Cầu Trung Đạo
Cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch. Cầu được xây bằng gạch, mặt dưới gồm nhiều vòm uốn. Hai
đầu có hai cổng bằng dựng bằng 4 cột đồng, trên cột đồng trang trí hoa sen. Điều này mang ý nghĩa
như là những ngọn đuốc soi sáng cho nhà vua. Hai cột giữa cao chạm nổi rồng 5 móng. Tuy hai trụ
đối xứng nhau nhưng một bên rồng vươn lên, một bên rồng lao xuống tạo sự sinh động, hấp dẫn.
Phía trên có những khung hình chữ nhật trang trí bằng pháp lam rực rỡ và có gắn 4 chữ nổi khá lớn
“Trung Hòa vị đục”. “Trung” là cái gốc lớn của thiên hạ, “Hoà” là đạt đạo của thiên hạ. Khi thực hiện
được sự dung hòa rồi thì trời đất yên ổn, vạn vật sinh sôi nảy nở. Cầu Trung Đạo dẫn đến sân chầu
trước điện Thái Hòa.
Cầu Trung Đạo nằm trên trục chính từ ngoài vào là những công trình kiến trúc dành cho vua. Đối
xứng hai bên là hai công trình theo nguyên tắc “nam tả-nữ hữu”, và “tả văn-hữu võ”.
Sân Bái Đình
Sân này là nơi các quan đại thần đứng xếp hàng theo phẩm trật quay mặt về điện Thái Hòa để làm
lễ đại triều. Ở chính điện Thái Hòa chỉ có vua ngự trên ngai vàng, các hoàng thân và 4 vị đại thần
hầu vua.
Ở hai sân bên có hai con lân – một trong tứ linh (rồng thể hiện vua, lân thể hiện lòng trung thành,
rùa: sự trường thọ, phụng: sức mạnh và trí tuệ, nếu phụng đặt trong kiến trúc dành cho phái nữ thì
thể hiện cho cái đẹp). Lân ở đây thể hiện lòng trung thành của các quan.
Sân chầu có 3 cấp. Hai cấp trên lát đá thanh, cấp dưới lát gạch. Tầng cao nhất gọi là đệ nhất bái
đình dành cho các quan nhất phẩm đến quan tam phẩm. Tầng hai là đệ nhị bái đình dành cho các
quan từ tứ phẩm đến cửu phẩm. Tầng ba là đệ tam bái đình dành cho hương hào, kỳ lão trong
hoàng tộc từ 70 tuổi trở lên. Ở hai bên tầng ba này có hai con nghê bằng đồng đứng quay đầu vào
điện Thái Hòa làm chức năng “giám sát” các quan thi hành lễ. Đây là nơi triều đình Nguyễn cử hành
các cuộc đại lễ thường kỳ và bất thường như lễ đăng quang, lễ vạn thọ, lễ đại khánh tiết…
Từ cấp một đến cấp hai hai bên có 18 bia quy định phẩm trật của các quan để theo đó mà sắp hàng
theo thứ tự. Bên trái nhà vua là quan văn, bên phải là quan võ.
Điện Thái Hòa
Điện Thái Hòa là trung tâm kiến trúc của Hoàng cung. Nó là ngôi điện cho tới nay còn lưu lại nét
vàng son lộng lẫy và mang trên mình nó những dấu ấn văn hóa nghệ thuật truyền thống sâu đậm.
Điện được lợp mái ngói hoàng lưu ly. Nếu Ngọ Môn có 100 cột gỗ lim thì Điện Thái Hòa có 96 cột.
So sánh với mấy chục cung điện khác trong phạm vi Hoàng cung triều Nguyễn, Điện Thái Hòa là
công trình kiến trúc quan trọng nhất, xét về nhiều mặt chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn
hóa nghệ thuật,…
Vào đầu thế kỷ XIX, khi quy hoạch mặt bằng hệ thống kiến trúc cung đình kinh thành Huế, các nhà
kiến trúc đương thời đã định vị cho Điện Thái Hòa ở ngay trung tâm điểm của nó chỉ vì một lý do
đơn giản nhưng rất hệ trọng: Đó là nơi đặt ngai vàng. Dưới chế độ quân chủ, ngai vàng là biểu
tượng của thiêng liêng, đồng thời là một khái niệm cao cả nhất trong thiên hạ.
Ngôi điện nằm trên trục chính của Hoàng cung được đặt tên Thái Hòa. Cái tên mang ý nghĩa cần sự
hòa hợp giữa âm và dương, cương và nhu thì mới hữu ích cho vạn vật. Ở một câu trong quẻ càn,
Chu Hy đã chú thích rằng: “Quân đạo cương nhị nhu, thiên hạ vô bất trị hỉ”, nghĩa là đạo làm vua
biết cứng biết mềm, thì mọi việc trong thiên hạ đều bình trị được cả.

Điện được khởi công ngày 21/2/1805, được hoàn thành 10/1805. Lúc đó vị trí Điện ở gần Đại Trung
Môn. Năm 1806, vua Gia Long chính thức tổ chức lễ đăng quang tại đây.
Năm 1834, vua Minh Mạng cho xây dựng lại Điện ở vị trí ngày nay trên nền cao 2m, điện dài 44m và
cao hơn 30m. về sau được tu bổ nhiều lần, đặc biệt là vào năm 1990-1991. Vì đặc điểm thời tiết
Huế mưa bão nhiều nên kiến trúc phải được thiết kế xây dựng cho phù hợp. Tức là họ làm nền cao
chống lũ lụt nhưng không thể làm mái cao để tránh bão. Kiến trúc tiêu biểu là “trùng thiềm điệp ốc”
hoặc “chồng diêm” tức hai mái nằm trên một nền. Bên ngoài là tiền doanh, tiếp vào trong là chính
danh. Tiền và chính doanh nối tiếp nhau bằng trần hay gọi là vỏ cua – trần thừa lưu, tức là nối hai
gian nhà lại với nhau nhưng phía trên có chức năng là máng xối, nối mái sau của tòa nhà trước với
mái trước của tòa nhà sau.
Điện này xây theo nhà kép như trên đã giái thích. Hệ thống sườn nhà làm bằng gỗ lim. Các hàng
cột 96 cái đều vẽ rồng sơn son thếp vàng. Giữa bờ nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt. Ở đầu và góc
mái đắp hồi long. Bộ mái hoàng lưu ly chia làm 3 tầng (trùng thiềm) để tránh sự nặng nề của tòa
nhà quá lớn, đồng thời tôn cao ngôi điện, tạo ảo giác chiều cao. Đó là chưa kể bờ cao của các bờ
nóc, những hình rồng, bầu rượu, mặt trời đắp nổi. Tất cả đều bay bổng vươn lên nền trời.
Sách Đại Nam Thực Lục cho biết rằng ngay sau khi làm lễ lên ngôi chính thức vào năm 1806, vua
Gia Long đã “định triều nghi mỗi tháng lấy ngày mồng Một và ngày Rằm đặt đại triều ở Điện Thái
Hòa, quan từ lục phẩm trở lên mặc áo mũ đai triều vào lạy chầu”. Vào các thời vua cuối của nhà
Nguyễn, trong những buổi lễ đại triều được tổ chức ở ngôi điện này và sân chầu trước mặt nó,
người ta thấy đủ các quan từ nhất phẩm đến cửu phẩm tham dự. Đây cũng là nơi triều đình nhà
Nguyễn cử hành các cuộc đại lễ thường kỳ và bất thường như: lễ đăng quang, lễ vạn thọ, lễ đại
khánh tiết, lễ Hưng quốc Khánh niệm,… Trong những buổi lễ ấy, vua ngự trên ngai vàng, ngai được
đặt trên các tam cấp tượng trưng cho Thiên-Địa-Nhân. Chỉ có các Hoàng thân mới được “thượng
điện” để đứng chầu hai bên Ngự Tọa, còn tất cả các quan bách tính đều xếp hàng ngoài sân đại
triều theo thứ tự phẩm trật và theo nguyên tắc tả văn hữu võ.
Phía bên trên ngai có treo bửu tán làm bằng pháp lam ngũ sắc, trang trí ngũ long, chung quanh còn
trang trí các diềm bằng gỗ chạm chín con rồng thếp vàng chói lọi.
Trên trần gỗ mỗi ngăn đều có treo lồng đèn trang trí thơ văn theo lối “nhất thi nhất họa”. Hệ thống
rường cột liên kết chặt chẽ, vững vàng trước gió bão.
Bên trong ta còn thấy cặp hạc đứng trên lưng rùa do tổng trấn Nam Định đúc tặng vua Khải Định
nhân sinh nhật lần thứ 40. Tiếp đó là hai con lân biểu hiện lòng trung thành của các quan đối với
vua. Quả cầu giữa có hình rồng và lân biểu hiện cho uy quyền. Đồ sứ trưng bày ở đây là đồ sứ
Giang Tây – Trung Hoa làm theo đặt hàng của nhà vua. Trong điện cũng trưng bày Bằng công nhận
quần thể di tích Huế là Di sản văn hóa Thế giới của UNESCO. Ở đây còn có nhiều bài thơ nói lên
cảnh thái bình thịnh trị của đất nước dưới triều đại Nguyễn.
Về trang trí cũng như kiến trúc có điều đáng lưu ý là con số 5 và số 9. Từ Đại Cung Môn đi ra Điện
Thái Hòa vua phải bước lên hệ thống thềm nền dưới là 9 cấp, nền trên là 5 cấp. Số bậc cấp lên đệ
nhất và đệ nhị bái đình cộng lại là 9, hệ thống bậc thềm nền điện là 5 cấp. Từ sân Đại Triều Nghi
nhìn vào hay ở Tử Cấm Thành nhìn ra ta có thể thấy mỗi mái điện đều đắp 9 con rồng trong các vị
thế khác nhau.
Điện Thái Hòa có hai điểm đặc sắc là:
- Mùa hè rất mát, mùa đông lại rất ấm
- Vua ngồi trên ngai vàng ở trung tâm nghe rất rõ những tiếng nói từ khắp nơi trong điện cũng như ở
ngoài vọng vào. Chưa ai giải thích được điều này.

Trên có treo ba chữ lớn “Thái Hòa Điện”
Tử Cấm Thành (xem thông tin trên ảnh)
.
Thái Bình Lâu (xem thông tin trên ảnh)
Duyệt Thị Đường (xem thông tin trên ảnh)
Thế Miếu
Sau lưng Thế Miếu là Hưng Miếu thờ chúa Nguyễn Phúc Luân – cha của vua Gia Long. Vua Gia
Long mất được phong là Thế Tổ Cao Hoàng Đế.
Thế Miếu được xây dựng năm 1821, khánh thành 1822. Vua Minh Mạng cho trồng nhiều cây thông
và uốn cây tạo hình chim phượng hoàng vì quan niệm chỗ nào có phượng hoàng sà xuống là chỗ
có thái bình, an cư.
Nguyên tắc thờ ở đây là “Nhất tả nhất hữu, nhị tả nhị hữu”. Thế Miếu có 12 áng thờ :
1. Gia Long – Nguyễn Thế Tổ (1802 – 1819)
2. Minh Mạng – Nguyễn Thánh Tổ (1820 –1840)
3. Thiệu Trị – Nguyễn Hiến Tổ (1841 – 1847)
4. Tự Đức – Nguyễn Dực Tông (1848 –1883)
5. Dục Đức (1883)
6. Hiệp Hoà (1883)
7. Kiến Phúc – Nguyễn Giản Tông (1883 – 1884)
8. Hàm Nghi (1884 –1888)
9. Đồng Khánh - Nguyễn Cảnh Tông (1885 –1888)
10. Thành Thái (1889 – 1907)
11. Duy Tân (1907 –1916)
12. Khải Định – Nguyễn Hoằng Tông (1916 – 1925)
Áng thờ vua Gia Long ở giữa. Đỉnh thờ to hơn có hình rồng, những đỉnh khác chỉ có hình lân. Đối
diện Thế Miếu là Hiển Lâm Các. Chính giữa sát Hiển Lâm Các là Cửu Đỉnh.
Cửu Đỉnh (xem thông tin trên ảnh)
Hiển Lâm Các (xem thông tin trên ảnh)
Đàn Nam Giao (xem thông tin trên ảnh)
Hệ thống lăng tẩm ở Huế
Ngoài hệ thống kinh thành và hoàng cung, cũng như những di tích chùa chiền, Huế còn có hệ thống
lăng tẩm rất nổi tiếng (có 7 khu lăng tẩm). Bởi có quan niệm “sinh ký tử quy” – sống gửi thác về,
nghĩa là cuộc sống trên trần gian này chỉ là tạm bợ, cái chết mới trở về thế giới vĩnh hằng và như
thế, cái nhà ở chỉ là tạm bợ, cái mồ mới là cái muôn đời. Cho nên các vua Nguyễn rất tốn công sức
cho việc xây dựng lăng tẩm của mình. Vua Minh Mạng là người tìm thế đất xây lăng kỹ lưỡng nhất
trong số các vua có xây lăng. Vùng đất đó phải hội đủ 4 yếu tố:
Tầm sơn điểm huyệt: hướng núi
Tầm thủy điểm huyệt: hướng nước
Tầm phong điểm huyệt: hướng gió
Tầm linh điểm huyệt: hướng núi đồi bao bọc
Có 7 lăng ở Huế, đó là:
1. Lăng Gia Long: cách Huế 18km đường thủy

2. Lăng Minh Mạng: cách Huế 16km đường thủy, 14km đường bộ
3. Lăng Thiệu Trị: cách Huế 10km
4. Lăng Tự Đức: cách Huế 7km
5. Lăng Dục Đức: được vua Thành Thái xây dựng sau khi ông lên ngôi
6. Lăng Đồng Khánh: cách lăng Tự Đức 500m
7. Lăng Khải Định: cách Huế 10km
Có 4 lăng lớn và đáng chú ý là lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức và Khải Định.
Mỗi lăng mang một dáng vẻ riêng biệt độc đáo, lối kiến trúc bộc lộ rõ tính hoành tráng. Lăng Minh
Mạng mang dáng vẻ thâm nghiêm, lăng Thiệu Trị có kiến trúc thanh thoát, lăng Tự Đức thơ mộng,
lăng Khải Định tinh xảo, chịu ảnh hưởng của kiến trúc Tây phương.
Quần thể kiến trúc vua Nguyễn khác với kiến trúc lăng tẩm của các vua nhà Minh – Trung Hoa ở
chỗ lăng của vua Trung Hoa mang cảm giác lạnh lùng u tịch. Còn kiến trúc lăng tẩm nhà Nguyễn là
gạch nối giữa thiên nhiên và con người. Chính sự hòa quyện đó là một tuyệt tác thơ trong kiến trúc.
Lăng tẩm Huế được đánh giá như sau: với cảnh thiên đường chóng qua trên dương thế, lăng tẩm
của các vua Nguyễn được xây dựng để làm thiên đường vĩnh viễn cho mai sau.
Lăng Tự Đức – Khiêm Lăng
(xem thông tin trên ảnh)
Lăng Khải Định (Ứng Lăng)
(xem thông tin trên ảnh)
Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng)
(xem thông tin trên ảnh)
Những lý do thành phố Huế được công nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới
Thành phố Huế xưa từng là thủ phủ của Đàng Trong, rồi kinh đô nhà Nguyễn, triều đại phong kiến
cuối cùng của nước ta.
Huế còn lưu giữ đến ngày nay nhiều dấu tích của quần thể kiến trúc, thành quách, cung điện, đền
chùa, lăng tẩm uy nghi, tráng lệ của vua chúa nhà Nguyễn.
Các công trình là thành quả lao động sáng tạo của hàng vạn người lao động qua các thời kỳ, có giá
trị lớn về lịch sử văn hóa. Quần thể kiến trúc này lại gắn kết hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên hữu
tình của sông Hương, núi Ngự, đan xen với những gò đồi chập chùng, những khu nhà vườn xum
suê cây lá, vùng đầm phá mênh mông.
Văn hóa Huế còn là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình. Những điệu
hò, điệu lý được tiếp thu và cải biên phục vụ cho vua chúa trở thành ca múa cung đình.
Nét văn hóa Huế còn thể hiện ở hàng chục làng nghề: kim hoàn, đúc đồng, nghề thêu… mỗi tác
phẩm như gửi gắm cả tâm hồn người dân xứ Huế.
Văn hóa ẩm thực Huế cũng rất phong phú, hàng chục món ăn cung đình còn giữ được cho đến
ngày nay, hàng chục loại bánh đặc sắc mà chỉ tìm thấy ở Huế.
Huế còn là nơi có nhiều lễ hội truyền thống dân gian, các lễ hội được tổ chức công phu và bài bản:
Lễ hội Điện Hòn Chén, lễ hội cầu ngư ở Thái Dương Hạ, hội chợ mùa xuân Gia Lạc, vật võ làng
Sình, tục đua trải trên sông Hương.
Chính vì vậy cuộc họp lần thứ 17 tại Colombia quyết định công nhận quần thể di tích Huế là tài sản
văn hóa chung. Ngày 2/8/1994 lễ trao văn bản công nhận đã được tổ chức trọng thể tại Hoàng cung
Huế, là di sản văn hóa lịch sử đầu tiên ở nước ta được ghi vào danh mục Thế giới.
Chùa Từ Đàm

Chùa tọa lạc trên một khoảng đất cao, rộng, bằng phẳng, cách trung tâm thành phố 2km. Trước
chùa có núi Kim Phụng làm tiền án. Bên trái là chủa Linh Quang và nhà thờ cụ Phan Bội Châu, phía
sau là chùa Thiên Minh. Chủa do hòa thượng Minh Hoàng Tử Dung sáng lập khoảng năm 1695.
Năm 1703 Chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban cho chùa tấm biển “Sắc Tứ Ấn Tôn Tự”. Năm 1841, vua
Thiệu Trị đổi tên cho chùa là chùa Từ Đàm. Năm 1936, chùa là trụ sở hoạt động của An Nam Phật
Hội Học. Năm 1951, chùa mở đại hội, đặt nền móng sơ khởi cho công cuộc thống nhất Giáo hội
Phật giáo Việt Nam. Những năm 60, chùa Từ Đàm là nơi xuất phát các cuộc đấu tranh chống chế
độ độc tài của Ngô Đình Diệm. Sau năm 1975, chùa là nơi hội họp của Ban trị sự Hội Phật giáo
Thừa Thiên Huế.
Phan Bội Châu (1867-1940)
Chí sĩ Danh sĩ nguyên tên Phan Văn San, sau đó đổi tên là Phan Bội Châu, hiệu Sào Nam và nhiều
biệt hiệu khác: Hai Thu, Thị Hán, Độc Tĩnh Tử, Hãn Mạn Tử. Con ông Phan Văn Phổi và bà Nguyễn
Thị Nhàn, sinh ngày 26/12/1867. Quê ở làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, Nghệ An (nay là xã Nam
Hòa).
Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, năm 1900 đỗ giải Nguyên trường thi Nghệ An, nhiệt tình yêu
nứơc, ngay từ năm 17 tuổi đã hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông viết bài Bình Tây thu Bắc rồi
cùng bạn là Trần Văn Lương thành lập đội “Sĩ tử Cần Vương” ở quê nhà.
Từ khi đỗ giải Nguyên, ông càng dốc tâm trí lo cho việc nước, giao kết với chí sĩ khắp nơi. Năm
1904 thành lập hội Duy Tân, năm sau cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc, rồi Nhật Bản gây dựng
phong trào Đông Du. Năm 1908, bị trục xuất khỏi Nhật, ông trở lại Trung Quốc, rồi sang Thái Lan,
xây dựng căn cứ hoạt động ở nước ngoài.
Sau cách mạng Tân Hợi 1911, ông trở lại Trung Quốc thành lập “Hội Việt Nam Quang Phục” và “Hội
Chấn Hoa Hưng Á”. Năm 1911 ông bị Long Tế Quang bắt giam ở Quảng Châu. Ra tù, ông càng tích
cực hoạt động. Năm 1911 cải tổ Hội Việt Nam Quang Phục thành Đảng Việt Nam Quốc Dân.
Đến năm 1925 ông bị tay sai Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, giải về nước. Chúng định thủ tiêu kín,
nhưng việc bại lộ phải đưa ra xử ttước hội đồng đề hình của chúng, kết án khổ sai chung thân.
Nhân dân toản quốc đấu tranh đòi ân xá cho ông. Toàn quyền Varenne buột lòng ra lệnh ân xá cho
ông nhưng phải an trí tại Huế (Bến Ngự). Từ đấy ông không còn hoạt động chính trị gì được nữa,
chỉ còn niềm an ủi được nhân dân vẫn hướng lòng tôn kính với biệt danh “ông già Bến Ngự”.
Trong cuộc đời ông có sự lầm lỡ đáng tiếc là viết ban thư nêu chính kiến “Pháp Việt đề huề”, mà
chính ông cùng tỏ ra ân hận. Khoảng năm 1924, ông cũng từng tiếp xúc với vị lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc (tức Bác Hồ) và toan theo đường hướng xã hội chủ nghĩa nhưng chưa kịp thi hành thì đã bị
chúng bắt cóc, rồi quản thúc.
Thơ văn của ông phổ biến sâu rộng trong quần chúng. Sách báo viết về ông rất nhiều. Ông là tác
giả của nhiều tác phẩm văn học yêu nước, cách mạng đóng góp phong phú cho nền văn học Việt
Nam. Gồm:
- Tự phán hay Phan Bội Châu Niên biểu.
- Lưu cầu huyết lệ tân thư, Việt vong thảm trạng (Thảm trạng Việt Nam mất nước)
- Hải ngoại huyết thư, Giác quần thư.
- Việt Nam vong quốc sử, Nam Quốc dân tu tri.
- Chu dịch quốc âm giải, Phan Sào Nam tiên sinh quốc văn thi tập.
- Việt Nam quốc sư khảo, Nữ quốc dân tu tri.
- Không học đăng, Sào Nam văn tập.
- Ngục Trung thư, Trùng Quang tâm sử, Xã hội chủ nghĩa.

- Và các tiểu truyện: Trần Đông Phong truyện, Hoàng Phan Thái truyện, Hà Thành liệt sĩ truyện,
Ngư Hải ông liệt truyện (Truyện Đặng Thái Thân), Tiểu La tiên sinh liệt truyện (Truyện Nguyễn
Thành), Tước thái thiền sư truyện (Truyện ông thầy rau - Nguyễn Diệm), Châu tướng quân (Truyện
Hoàng Hoa Thám ), Phạm Hồng Thái truyện.
Khi còn sống ông được luật sư Bona (người Pháp) xưng tụng:
“Cụ Phan (Phan Bội Châu) là người quả không hổ là kẻ ái quốc, ái quần chân chính. Dẫu tôi là
người Pháp, đối với cụ Phan tôi cũng phải ngưỡng mộ. Tôi ngưỡng mộ là ngưỡng mộ cái thân thế
quang minh, cái tinh thần cao thượng, cái nghị lực bất di, bất khuất đã chứng tỏ ra trong việc làm
của cụ”.
Ngày 29/10/1940 ông mất tại lều tranh Bến Ngự, Huế, thọ 73 tuổi.
Áo Dài
Theo một số tài liệu lưu truyền thì chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam khởi phát từ thới Chúa Nguyễn
Phúc Khoát (khoảng cuối thế kỷ 18). Xuất phát từ ý đồ muốn thay đổi trang phục của người dân xoá
đi một thói quen cũ tạo một nề nếp mới cho vương quốc. Nền tảng là chiếc áo dài của ngườ phụ nữ
Chăm, kết hợp với chiếc áo dài tứ thân và một số trang phục của người dân tộc khác, triều thần ở
Phú Xuân đã sáng tạo nên một mẫu mới – Chiếc áo dài. Chính nó là sản phẩm kế thừa được cái
đẹp của trang phục ở cả hai miền Nam-Bắc. Khởi phát từ Huế nhưng nó là sản phẩm văn hóa đại
diện cho cả ba miền Bắc-Trung-Nam và từ lâu nó trở thành tài sản chung của cả dân tộc.
Theo thời gian, đường nét chiếc áo dài cũng biến đổi đội chút. Lúc thì rộng, lúc thì ôm sát thân hình
của người phụ nữ. Lúc cổ cao, lúc cổ thấp, lại có lúc cổ tròn, cổ bẹt. Lúc áo dài chấm gót, lúc lại
lưng lững gần đầu gối. Chiếc áo dài hiện đại có thân tương đối sát thân người, làm cho thân thể phụ
nữ hiện lên đường cong mềm mại, phù hợp với vóc dáng nhỏ nhắn của người phụ nữ Việt Nam. Hai
tà áo thả xuống ngang giữa ống chân, thướt tha bay trong gió, quấn quít từng bước đi. Thân áo xẻ
hơi cao, tà áo nới rộng vừa phải có thể hơi loe, chiều dài có khi chỉ bằng ba phần tư cánh tay tạo
dáng khỏe, trẻ trung. Tất cả đều thể hiện cái đẹp trang nhã, kín đáo nhưng vẫn mềm mại. Chiếc áo
dài hàm chứa nhiều điều về cái đẹp của người phụ nữ Việt Nam: kín đáo, dịu dàng, thùy mỵ…
Gần đây, các một thời trang của nước ngoài được du nhập vào Việt Nam nhưng bộ áo dài truyền
thống vẫn được phụ nữ Việt Nam sống ở trong và ngoài nước ưa chuộng.
Tranh làng Sình
Làng Sình có tên chữ là Lại Ân thuộc tổng Hoài Tài huyện Tư Vang, phủ Triệu Phong, xứ Thuận
Hóa (nay là huyện Hương Phú – Thừa Thiên Huế). Làng nằm ở ven bờ Nam hạ lưu sông Hương,
cách Huế không xa (bên kia sông Bảo Vinh). Làng Sình nổi tiếng về hội vật mùng Mười tháng
Giêng, nhưng làng Sình còn nổi tiếng về một nghề làm tranh thờ in ván khắc. Trước kia hầu hết
tranh thơ in ván hay bán ở chợ vùng này do dân làng Sình làm nên gọi là “Tranh Sình”.
Thời hưng thịnh của tranh Sình, những người trong các gia đình ở đây đều biết in và tô màu cho
tranh. Tranh làm ra bán buôn ngay tại nhà hay bán cho hàng mã ở chợ, có khi được đặt từ trước.
Giấy in tranh là giấy mộc, màu trước kia lấy màu từ tự nhiên (thực vật, kim loại, sò điệp), sau là sản
phẩm hóa học gồm các màu cơ bản: đỏ, vàng, xanh và đen. Bản khắc từ gỗ mít. Tranh ở đây in lối
ngửa ván rồi dùng tay vuốt giấy cho thẳng, in lấy một nét và mảng đen, sau dựa vào đấy mà tô màu.
Một số tranh in đen xong là hoàn chỉnh.
Tranh Sình chủ yếu là tranh thờ, tranh tín ngưỡng phục vụ dân gian. Tranh làng Sình có khoảng 50
đề tài khác nhau, phản ánh tín ngưỡng cổ sơ, tư tưởng của người Việt cổ trước một thiên nhiên
hoang sơ, thần bí và linh dị. Cuộc sống của con người bị chi phối bởi nhiều tai hoạ nên họ cần đến

sự che chở của thần linh. Người ta cúng tranh để cầu mong người yên, vật thịnh, phụ nữ sinh nở
được “mẹ tròn con vuông”, trẻ con mau lớn, người ốm chóng khỏi.
Bên cạnh ý nghĩa thờ cúng, tranh Sình còn khắc họa bằng hình ảnh sinh động những sinh hoạt văn
hóa, xã hội, lao động. Nhóm tranh muôn thú thuộc (chậu, hoa,, thuyền bè…). Tranh Sình đơn giản
nhưng đẹp một cách bình dị tự nhiên. Một trong những đề tài khá phổ biến và đẹp là bộ tranh tố nữ,
mỗi bức vẽ một cô đứng biểu diễn một loại nhạc cụ. Trang phục của các cô đều giống nhau là áo
“mã tiên”, áo trắng dài mặc trong, sáo cánh màu bận ngoài, màu áo có thể thay đổi khi tô màu sao
cho vui.
Trang làng Sình nặng về tính chất thờ cúng, chưa đáp ứng được yêu cầu thưởng ngoạn của dân
gian, chưa phản ánh được niềm lạc quan, yêu đời như tranh tết, tranh sinh hoạt Đông Hồ. Tranh
làng Sình đã bị thất truyền từ lâu, nhưng dẫu sao nó đã có một thời gian gần gũi với bao gia đình ở
miền Trung.
Tôm Chua Huế
Những người dân Huế tha hương sau chuyến thăm nhà thường không thể không mang theo một vài
thứ hương vị quê hương, và trong những thứ đó dường như không thể thiếu thẩu tôm chua. Du
khách trước khi rời Huế đều muốn mua vài thẩu tôm chua về cho người thân. Tôm chua giờ đây
nhiều nơi khác trong nước có thể làm theo công thức. Song thật ra, chỉ ở Huế, tôm chua mới ngon,
cũng như cơm hến vậy.
Tất cả các loại tôm đều làm được, tôm càng tươi càng ngon. Đặc biệt tôm rằn, lúc chí tô có màu đỏ
tự nhiên hấp dẫn. Bởi là một món đặc sản ngon nên việc làm tôm chua nhiều năm trở lại đây đã trở
thành một nghề nuôi sống nhiều ngừơi. Ngày trước, mỗi khi có giỗ, tiệc, các gia đình thường tự làm
lấy. Nay thì đa số ra chợ mua, chỉ còn người “kén “ ăn thích tự mình làm cho đảm bảo chất lượng.
Chọn tôm tươi sống, đều con, cắt râu, rửa sạch để ráo, ngâm với rượu cho đến khi hết mùi rượu,
vớt ra để ráo nước. Măng vòi (phần non), tỏi xắt lát mỏng, củ riềng xắt rối, ớt thái thành lát dài. Trộn
đều tôm, xôi, măng vòi, tỏi, ớt, riềng, nước mắm ngon hoặc muối, cho vào thẩu thủy tinh hoặc thẩu
men, lấy vài thanh tre mỏng gài lại và đậy nắp, để nơi có nắng ấm độ 3 ngày. Sau đó đưa vào nơi
khô ráo và mát. Từ 5 đến 7 ngày, màu trắng của xôi, măng, riềng, tỏi, màu đỏ của tôm, ớt cho ta
một thẩu tôm chua chín vừa, đẹp và thơm ngon. Ở các gian hàng bán tôm chua, khi khách mua,
nếu khách yêu cầu họ thêm củ riềng vào. Bởi vì với tôm chua với tép chua, càng nhiều củ riềng vào
thì ăn càng ngon. Khi ăn giả thêm ớt, tỏi, đường, bột ngọt. Có thể thay rau sống bằng dưa giá, củ
kiệu. Một miếng ăn ghém, vị ngọt bùi của tôm,vị béo của thịt, vị cay thơm của riềng, tỏi, ớt, vị chua
của khế, vị chát của vả, hương thơm của rau… Tất cả dồn lên đầu lưỡi một vị tuyệt vời.
Cơm Hến
Người Việt Nam ăn cơm kiểu nào cũng là cơm nóng chỉ có cơm hến nhất thiết là phải ăn nguội. Với
người Huế hình như để bày tỏ quan niệm rằng chảng có vật gì trên đời này đáng bỏ đi nên mới bày
ra món cá lẹp kẹp rau mưng. Cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn làm sốt ruột người chế biến
món ăn.
Hến ở Huế ngon nhất là hến Cồn. Hến có vị chủ của cơm hến, xào kèm theo bún tàu (miến), măng
khô và thịt heo thái chỉ. Món thứ ba trong cơm hến là rau sống. Rau sống làm bằng thân chuối hoặc
bắp chuối xắt mỏng như sợi tơ, trộn lẫn với món bạc hà, khế và rau thơm thái nhỏ, có khi còn điểm
thêm những cánh bông vạn thọ vàng, nhìn tươi mắt và có thêm mùi hương riêng.
Nước luộc cơm hến được múc ra từ chiếc nồi bung bốc khói nghi ngút bằng chiếc gáo làm bằng sọ
dừa xinh xắn, cho vào đầy một cái tô đã có đủ cơm nguội, hến sào, rau sống và được gia thêm đủ vị

đồ màu. Nước hến có giã thêm gừng, màu trắng đùng đục. Mê nhất là cái màu đùng đục ấy, ăn cơm
hến mà chê nước đục là… dại.
Bộ đồ màu của cơm hến là nhiêu khê nhất thiên hạ gồm 10 vị: ớt tương, ớt màu, ruốc sống, bánh
tráng nướng bóp vụn, muối rang, hạt đậu phộng rang mỡ giã hơi thô thô, mè rang, da heo rang
giòn, tóp mỡ, vị tinh. O bán cơm hến múc bằng gáo mù u nhỏ xíu thoăn thoắt như đang vẩy nước
thánh.
Hương vị bát ngát suốt đời người của cơm hến là mùi ruốc thơm dậy lên tận óc và vị cay đến trào
nước mắt. Người mê cơm hến vẫn chưa vừa lòng với vị cay sẵn có, còn đòi thêm một trái ớt tươi để
cắn kêu cái rốp. Nước mắt đầm đìa, mồ hôi ròng ròng nhỏ thế mà cứ xì xụp, xuýt xoa kêu ngon.
Muối mười món
Có “Bò bảy món”, “Cờ tây chín món”, thì cũng có “Muối mười món”! Trước hết là đĩa muối rang
trắng mịn. Kế đến là muối tiêu, muối ớt, muối tiêu chanh, muối ruốt sả ớt, muối mè, muối đậu phộng,
muối khuyết, muối sả thịt, muối dầu lai… Mười loại muối này thể hiện sự phong phú trong sự khó
khăn của miền Trung. Mỗi loại muối được dùng cho mỗi món ăn khác nhau: muối sả thịt dùng với
dưa chua, muối vừng ăn với cơm nóng, muối ruốt sả ớt thích hợp cho các sản phụ.
Bãi biển Thuận An
Vùng cửa Thuận An là nơi gặp gỡ của dòng Hương trong xanh với biển Đông qua Phá Tam Giang.
Dịch về phía phải khoảng 500m là bãi biển Thuận An, một điểm du lịch biển nhiệt đới hấp dẫn, cách
Huế 13km về phía Đông Bắc. Du khách có thể đến Thuận An bằng đường bộ qua những xóm làng
trù phú, cây trái xum xuê, những cánh đồng lúa bát ngát. Hoặc có thể xuôi theo dòng Hương Giang
lướt qua những cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, diễm lệ ở đoạn cuối con sông.
Bãi biển Thuận An kéo dài gần 1km. Bờ biển dốc thoai thoải cát trắng mịn màng. Hoạt động náo
nhiệt nhất ở Thuận An là vào mùa tắm biển từ tháng 4 đến tháng 9. Ở đây du khách có thể tham
quan các khu di tích lịch sử như: Thành Trấn Hải, Đình Thái Dương. Ngoài ra du khách còn có thể
thưởng thức các đặc sản biển như: tôm, sò huyết, mực… và các món ăn truyền thống của người
dân địa phương như bánh lọc, bánh nậm… Vào ngày 11, 12 tháng Giêng, Thuận An diễn ra lễ hội
“Cầu Ngư” thu hút hàng ngàn người tại sân đình Thái Dương rồi rước qua bãi biển Thuận An theo
hướng đập đá Vĩ Dạ.
Xưa nay bãi biển Thuận An là vị trí quân sự hết sức quan trọng nhằm bảo vệ kinh thành Huế nên đã
xảy ra nhiều cuộc chiến ác liệt. Năm 1786, Nguyễn Huệ đã đánh chiếm toàn bộ toán quân đồn trú
của chúa Nguyễn ở Thuận An để chiếm Phú Xuân. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ
XIX, năm 1883, phái chủ chiến trong quân đội Nguyễn chống trả quyết liệt chiến thuyền của Pháp tại
Thuận An. Khi trở lại xâm lược Việt Nam, Phát đã xây dựng cửa Thuận An thành một quân cảng lớn
với âm mưu chiếm đóng lâu dài. Tiếp theo Mỹ đã xây dựng Thuận An thành một quân cảng hiện
đại, với sân bay dã chiến, căn cứ hải quân, trung tâm viễn thông, căn cứ hậu cần…
Phá Tam Giang
Từ đầu thế kỷ XIX ngưởi dân Quảng Trị, ThừaThiên Huế đã lưu truyền câu ca:
“Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
Xưa kia người ta sợ phá Tam Giang vì phá này thuộc loại rộng lớn nhất nước ta, có chiều dài tới
km, chiều rộng có chỗ tới 20km và nằm dọc theo duyên hải tỉnh Thừa Thiên Huế. Phá được ngăn
cách từ biển Đông bởi những trảng cát cao ngút ngàn. Phá rộng lớn như vậy nên việc đi lại trên phá
rất nguy hiểm vì mỗi khi gặp gió to, sóng lớn, thuyền dễ bị lật chìm.
Gọi là Phá Tam Giang vì phá này có 3 con sông đổ vào: sông Hương, sông Ô Lâu, sông Bồ. Vào

mùa mưa, lũ sông tràn về, phá Tam Giang đầy ấp nước và sau đó thoát ra biển bằng hai cửa Thuận
An và Tư Hiền. Vào mùa khô, nước phá cạn, thủy triều lên đem nước mặn vào phá và ngược theo
các sông, đi sâu vào đất liền. Ở sông Hương nước mặn xâm nhập tới địa phận Thiên Mụ.
Theo quy luật tự nhiên thì những đầm phá dù lớn đến mấy cũng mau chóng bị các sông mang phù
sa tới lấp đầy. Tuy nhiên, vì sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu là những con sông nhỏ, lượng
phù sa ít, nên quá trình bồi lấp phá Tam Giang xảy ra rất chậm. Song nếu so với đầu thế kỷ XIX thì
phá Tam Giang ngày nay đã bị lấp hẹp và nông đi rất nhiều, không còn sóng dữ, khách qua lại an
toàn hơn hẳn xưa.
Vua Gia Long với tên nước Việt Nam
Nước ta là một nước nhỏ ở phía Nam Trung Quốc. Để được yên ổn, các triều đại phong kiến nước
ta trước đây dù luôn chống lại sự xâm lược của phong kiến phương Bắc, tự xưng vương và tự đặt
tên nước cho mình, nhưng bình thường vẫn giữ mối giao hảo, thậm chí chịu sắc phong. Các triều
đại phong kiến phương Bắc lúc ấy, luôn mang tinh thần Đại Hán, nên chỉ coi nước ta là một quận
của Trung Hoa. Triều đình phương Bắc gọi nước ta là quận Giao Chỉ và vua nước ta là Giao Chỉ
Quận vương. Khoảng thế kỷ VII, cái tên An Nam xuất hiện do nhà Đường đặt lại chế độ hành chính
ớ nước ta, gọi là An Nam Đô hộ phủ và cử một quan An Nam đô hộ cai trị. Đầu thế kỷ XIX, sau khi
thống nhất đất nước, vua Gia Long sai sứ sang Trung Quốc xin sắc phong và đổi tên An Nam thành
Nam Việt. Nhà Thanh sợ chữ Nam Việt trùng với tên nước cũ bao gồm cả Lưỡng Quảng nên không
đồng ý. Vua Gia Long bảo: “Nếu không cho đổi tên nước thỉ không chịu phong”. Quân Thanh đã bị
phong trào Tây Sơn đánh bại ở Việt Nam, quân nhà Nguyễn lại thắng Tây Sơn, nên nhà Thanh sợ
mất lòng Gia Long phải dung hòa đổi chữ Nam Việt thành Việt Nam đặt tên cho nước ta. Đầu năm
1804, vua Thanh sai án sát Quảng Tây Tề Bố Sâm đem cáo sắc và quốc ấn qua phong cho vua Gia
Long. Nước ta có quốc hiệu Việt Nam có từ đó.
Đến đời Minh Mạng, cương vực nước ta rộng lớn hơn nhiều so với các thời trước. Có lẽ vì thế mà
vua Minh Mạng thấy tên nước ra đời từ đầu triều Gia Long không còn thích hợp, bèn xuống Dụ đổi
tên nước thành Đại Nam hay Đại Việt Nam. Dụ ra ngày 2/3/1838. Đến nửa sau thế kỷ XIX, nước ta
bị thực dân Pháp chiếm đóng và chia thành 3 kỳ với 3 tên và 3 chế độ khác nhau. Đó là An Nam
(Trung Kỳ), Tonkin (Bắc Kỳ) và Cochinchine (Nam Kỳ). Tên Việt Nam hay Đại Nam bị hủy bỏ. Triều
đình nhà Nguyễn chỉ còn một số quyền hành nhỏ tại Trung Kỳ. Tuy nhiên các vua cuối triều Nguyễn
vẫn giữ tên nước của mình là Đại Nam. Mãi cho đến ngày 30/8/1945, sau khi vua Bảo Đại trao ấn
kiếm cho phái đoàn đại diện Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tên nước Đại Nam mới hoàn
toàn chấm dứt và tên Việt Nam được sử dụng cho đến ngày nay.