THỦ ĐÔ HÀ NỘI (3)

Kiến Trúc Quốc Tử Giám – Văn Miếu
Một khung tường vây xây toàn bằng những viên gạch vồ cỡ lớn – một loại vật liệu kiến trúc phổ
biến của thời Hậu Lê, tường để trần hình chữ nhật, chiều dài hơn 300m, chiều rộng 70m, chạy
dài suốt từ đường Quốc Tử Giám vắt ngang tới tận đường Nguyễn Thái Học, tự thân nó qua dáng
bên ngoài đã đủ gây nên một không khí cổ kính. Bất cứ ai qua đây dù vô tình cũng không thể nào
không tìm hiểu, ít nhất đôi điều, xem đây vốn là nơi nào? Di tích của một thời đại nào? Bên
trong tường, những mái kiến trúc cổ ẩn hiện dưới cành lá sum suê của những cây cổ thụ mang
một cảnh sắc khác hẳn mọi kiến trúc của những dãy phố xung quanh, càng thu hút sự chú ý của
mọi khách qua đường.
Đó là khu di tích lịch sử Quốc Tử Giám - Văn Miếu. Khu di tích rộng khoảng 6 mẫu Bắc Bộ này
bên ngoài có tường vây bốn phía, bên trong chia làm năm khu vực phân minh cũng ngăn cách
bằng những bức tường ngang xây gạch vồ như gạch bốn tường vây.
Đâu chỉ có như vậy, phạm vi của khu di tích xưa vốn còn vươn qua cả đường Quốc Tử Giám bao
gồm cả chiếc hồ mà nay do chưa được sửa sang đã làm cho ta lầm tưởng chỉ là một trong hàng
chục chiếc hồ chứa nước bình thường của thành phố.
Chúng ta hãy xem thứ tự: từ trước tới sau, từ ngoài vào trong, từng bước tìm hiểu dấu tích từ
nguyên sơ đến hiện đại của khu di tích lịch sử hiếm có này.
Văn Hồ
Trước cửa Văn Miếu ngày nay, ở bên kia đường nhựa mang tên Quốc Tử Giám, có một cái hồ
khá rộng, giữa hồ nỗi lên một quả gò, trên gò vốn có bia và đình bia, có cây cổ thụ. Ngày xưa nơi
đây vốn là một cảnh rất đẹp và nên thơ. Di tích này tên gọi Văn Hồ. Theo ý đồ kiến trúc, đây vốn
là cái “tiểu minh đường” của Văn Miếu, là một bộ phận khăng khít của toàn bộ công trình kiến
trúc chung.
Năm 1863, trong dịp sửa nhà bia Văn Miếu, Văn Hồ đã được một lần tu sửa. Sự việc còn ghi lại
rõ ràng trên tấm bia đá dựng ở gò giữa hồ.
Hồ này và cả một dãi đất chạy suốt chiều dài mé Tây của Văn Miếu đều là thuộc đất khu Văn
Miếu. Sau khi Hà thành thất thủ, không có người trông nom, mọi sự chăm sóc chỉ tập trung vào
khu phía trong 4 bức tường vây. Tới khoảng năm 1937 – 1938, các văn thân Hà Nội, Hà Đông
cùng những nhà Nho mới làm giấy xin nhận lại hồ và đất ấy. Hồi ấy có dự định sửa sang Văn
Hồ, trồng nhãn Hưng Yên, vải Thanh Liệt trên dải đất mới nhận lại nói trên. Việc chưa tiến hành
đã tiếp tới cuộc binh lửa năm 1946.
Một hồ nước trong, quanh bờ cây cối râm mát, một gò đất nổi giữa hồ trên có một kiến trúc nhỏ
đẹp lẩn dưới cành lá sum sê, cảnh này mở đầu cho một khu kiến trúc sẽ trở thành một tấm gương
soi, nhân đôi cảnh trí, có tác dụng gây cho khách tham quan cảm giác mát mẻ dịu dàng ngay từ
khi mới đặt chân vào khu kiến trúc.
Văn Miếu Môn
Hai tấm bia “hạ mã” dựng trong hai nhà bia nhỏ là mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt.
Xưa kia dù công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải
xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia “Hạ mã” bên này sang tới tấm bia “Hạ mã” bên kia mới lại được
lên xe ngựa mà tiếp tục hành trình. Thế đủ biết Văn Míêu có vị trí tôn nghiêm tới chừng nào.
Một sân đất thênh thang từ bia “Hạ mã” tới tường phía trước của Văn Miếu là khoảng thứ nhất
bên ngoài. Sân này bị con đường lát gạch sẻ đôi. Đường thẳng tắp qua cổng giữa rồi nối với
những đoạn phía trong, thành một đường trục giữa xuyên suốt khu kiến trúc tạo nên kiểu dáng

đối xứng tuyệt đối một kiểu mặt bằng quen thuộc quán xuyến hầu hết các đồ án kiến trúc thời cổ
đại.
Văn Miếu môn tức là cổng tam quan ngoài cùng tận. Cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây hai
tầng. Tầng trên có ba chữ “Văn Miếu Môn”. Di tích còn lại ngày nay là sản phẩm của thời
Nguyễn, có chăng chỉ những viên gạch vồ sử dụng để xây nên cổng này là di tích cổ nhất thuộc
thời Lê (khoảng thế kỷ 16 trở lại).
Kiểu dáng kiến trúc Văn Miếu Môn nhiều nét độc đáo rất đáng lưu ý trong khi nghiên cứu kiến
trúc cổ Việt Nam. Nhìn bên ngoài tam quan là 3 kiến trúc riêng biệt. Cửa chính giữa thực chất
xây hai tầng. Mặt bằng hình vuông. Tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới, do đó
xung quanh thừa ra một hàng hiên rộng, 4 mặt có lan can. Phía bên ngoài tầng dưới chỉ mở có
một cửa cuốn, hai cánh bằng gỗ và mi cửa hình bán nguyệt cũng bằng gỗ chạm nổi hình đôi rồng
chầu mặt nguyệt. Phía bên trong lại mở 3 cửa cuốn không có cánh. Tầng trên làm 8 mái, 4 mái
hiên và 4 mái nóc, do đó dáng ngoài nom tựa một kiến trúc hai tầng và cả cổng chính có dáng
của một kiến trúc ba tầng. Mái tầng trên làm cong lên ở 4 góc. Bờ nóc cũng có đắp đôi rồng chầu
mặt nguyệt. Tầng trên không có treo chuông khánh.
Phía ngoài cổng có hai đôi câu đối nề không rõ niên đại, tới nay vẫn còn rõ nét chữ.
Câu đối thứ nhất:
Đại quốc bất dịch giáo,bất biến tục, thả tôn sùng chi, diệc tín tư văn nguyên hữu tự
Ngô Nho yếu thông kinh, yếu thức thời, vô câu cố đã, thượng tư thánh huấn vĩnh tương đôn
Dịch nghĩa:
Nước lớn trọng giáo dục, giữ thuần phong, đạo được tôn sùng, tin tưởng tư văn nguyên có gốc.
Nhà Nho phải thông kinh, phải thức thời, chớ nên cố chấp, những lời thành huấn phải ghi lòng
Phía trong cổng một câu đối nề khác cũng không có niên đại.
Sĩ phu bảo đáp vị hà tai! Triều đình tạo tựu chi ân, quốc gia sùng thượng chi ý.
Thế đạo duy trì thị thử nhĩ!Lễ, nhạc, y, quan sở tụy, thanh danh văn vật sở đô.
Dịch nghĩa:
Sĩ phu còn nhiều báo đáp, ơn triều đình đào tạo, ý nhà nước tôn sùng
Thế đạo nhờ đó duy trì, chốn lễ nhạc, y quan, nơi thanh danh văn vật.
Tả môn và hữu môn hai bên nhỏ hơn, thấp hơn cũng xây kiểu 4 mái hiên và 4 mái nóc, nom tựa
như kiến trúc hai tầng. Hai cửa này xưa kia là nơi đóng mở ra vào hàng ngày, còn cửa chính thì
quanh năm cửa đóng then cài mà chỉ mở vào những dịp long trọng như vua chúa tới thăm, những
ngày tế lễ hoặc những khi treo bảng vàng các khoa thi tiến sĩ.
Đại Trung Môn
Từ cổng chính Văn Miếu môn, theo đường lát gạch đi thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung Môn.
Ngang hàng với Đại Trung Môn, bên trái có Thánh Dực môn, bên phải có Đạt Tài môn. Bức
tường ngang nối 3 cửa vươn dài ra hai bên tới tận tường vây dọc bên ngoài. Hai bên tả hữu của
cả khu Văn Miếu, cùng với tường ngang nơi Văn Miếu môn tạo thành một khung hình gần
vuông có tường vây khép kín ra vào bằng Văn Miếu môn, Tả môn và Hữu môn ở phía trước và
bằng Đại Trung môn, Thánh Dực môn và Đạt Tài môn ở phía sau.
Trong khu vực này không có kiến trúc nào cả, chỉ trồng cây to bóng mát gần kín khắp mặt bằng.
Hai chiếc hồ chữ nhật nhỏ nằm sát theo chiều dọc của tường vây dọc bên ngoài. Cây xanh, bóng
mát, nước trong, cảnh trí gây nên cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã của nơi “Văn vật sở đô”.
Cửa Đại Trung làm kiểu 3 gian có nền cao, có mái lợp ngói, hai hàng cột hiên trước sau và một
hàng cột chống nóc ở chính giữa. Hàng cột này chính là nơi để lắp cánh cửa, song ở cửa này
không làm cánh. Ở gian giữa treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then “Đại Trung Môn”.
Con đường lát gạch từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn lại vươn tiếp thẳng tới Khuê Văn Các.

Từ hai cửa Đạt Tài và Thánh Dực ở hai bên cửa Đại Trung, hai con đường lát gạch khác nhỏ hơn
chạy thẳng song song với con đường trục giữa, chia khu vực thứ hai này thành 4 dãy khá cân
bằng. Hai hồ nước hình chữ nhật được đào ở vị trí tương tự như hai hồ nước ở khu vực thứ nhất.
Cảnh trí khu vực thứ hai này không khác gì mấy ở khu vực thứ nhất. Vốn cũng chỉ là những bãi
cỏ, trồng ít cây cổ thụ rất cao tuổi đã cằn cõi (Hiện nay đã được trồng thêm nhiều cây mới theo
hàng lối qui cũ hơn).
Việc lắp lại một khu vực chỉ có cây, có cỏ, việc làm thêm dãy tường ngăn và làm thêm một lớp
cửa ra vào như thế này đã làm cho công trình sư thiết kế thành công trong ý đồ tạo nên cảnh
thâm nghiêm, tỉnh mịch của khu vực kiến trúc.
Khuê Văn Các
Khu vực thứ hai kết thúc ở bức tường ngăn ngang nối cửa Bi Văn, gác Khuê Văn và cửa Súc
Văn. Gác Khuê Văn là một lầu vuông 8 mái xây vào năm 1805, đời Gia Long triều Nguyễn. Gác
dựng trên một nền vuông cao lát gạch bát tràng. Kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo. Tầng dưới chỉ
là 4 trụ gạch, 4 bề trống không. Tầng trên là kiến trúc gỗ trừ mái lợp và những phần trang trí góc
mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát. Sàn gỗ có chừa hai khoảng trống để
bắt thang lên gác. Bốn cạnh sàn có diềm chạm trổ tinh vi. Bốn góc sàn làm lan can con tiện cũng
bằng gỗ, bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống toả
ra bốn phía. Cửa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và những tia sáng của sao.
Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thiếp vàng 3 chữ “Khuê Văn Các”.
Mỗi mặt tường gỗ đều chạm một đôi câu đối chữ Hán thếp vàng. Cả 4 đôi đều rất có ý nghĩa.
Bốn đôi câu đối chạm vào tường gỗ gác Khuê Vân được dịch nghĩa như sau.
Sao Khuê trời sáng, văn minh rộng
Sông Bích xuân sâu, mạch đạo đời
Triều ta tô điểm nhiều văn trị
Gác đẹp văn hay đón khách xem.
Bắc đẩu soi thành nhiều khí tốt
Đầm thu bóng nguyệt sáng lòng xưa
Nước lễ nghĩa nghìn năm hiến
Phủ đồ thư một mối thánh hiền.
Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đợi thi Khoa
thi hội.
Gác nhỏ xinh, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ
thụ xanh tốt, cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong in bóng gác rung rinh. Gác Khuê Văn
xứng đáng với lời bình là một viên ngọc trong khu di tích kiến trúc Văn Miếu Hà Nội.
Cửa Bi Văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Thánh Dực bên trái. Bi Văn có nghĩa là
trang sức nên vẻ đẹp. Ý nói văn chương trau chuốt sáng sủa, truyền cảm thuyết phục con người.
Cửa Súc Văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Đạt Tài bên phải. Súc Văn có nghĩa là
văn chương hàm súc phong phú, có khả năng nuôi dưỡng vẻ đẹp của tâm hồn.
Hai cửa này cùng với Gác Khuê Văn đồng thời mở đầu cho khu vực thứ ba, khu vực giếng Thiên
Quang và hai vườn bia tiến sĩ.
Giếng Thiên Quang

Giếng Thiên Quang (Thiên Quang tĩnh) còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn). Thiên Quang là ánh
sáng bầu trời. Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con người thu nhận được
tinh túy của vũ trụ, soi sáng trí thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn.
Giếng Thiên Quang quanh năm đầy nước. Mặt nước bằng phẳng trở thành một tấm gương soi
bóng Gác Khuê Văn và những cây cổ thụ, do đó cảnh trí được nhân đôi mức độ mỹ quan. Đôi
khi gió thổi nhẹ mặt nước hơi gợn sóng lăn tăn, thì bóng Gác Khuê Văn do đó cũng lung linh lay
động nhẹ nhàng, cảnh sắc càng trở nên vô cùng đẹp mắt.
Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa còn có quan
niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh
hoa của cả trời và đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm giữa chốn đế
đô.
Hai bên tả hữu lan can giếng mở cửa xây bậc xuống giếng, ý đồ xây dựng là mở lối xuống giếng
để rửa và lấy nước tưới hoa, song kh6ng khí tôn nghiêm nơi đây đã khiến khách tham quan
chẳng xuống rửa dưới hồ, sợ làm ô úê mất đi tính thiêng liêng của ngàn năm Văn Hiến. Mé ngoài
lan can có trồng hoa đủ loại, hoa lá xanh tươi càng tôn thêm màu trang nhã của “Ao Văn”. Một
con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng cho phép ta có thể dạo quanh giếng, lên gác Khuê Văn,
vào cửa Đại Thành rồi rẽ sang hai vườn bia đá ở hai bên.
Nhưng có lẽ di tích có giá trị bậc nhất ở đây là 82 tấm bia tiến sĩ dựng ở hai bên trái phải của
giếtn Thiên Quang, mỗi bên 41 tấm dựng thành hai hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng.
Cả hai bên, giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông, bốn mặt bỏ trống, nền cao, giữa có bệ,
cửa đình trông thẳng xuống giếng. Đây là hai tòa đình thờ bia. Xưa kia hàng năm xuân thu nhị kì
trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây cũng sửa lễ vật cúng bái các vị tiên Nho của nước ta mà qýi
tánh cao danh còn khắc trên bia đá. Trong 82 tấm bia còn lại tới ngày nay, tấm sớm nhất dựng
vào năm 1484, khắc tên các vị tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442),
tấm cuối cùng dựng vào năm 1780 khắc tên các Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng
năm thứ 40 (1779). Từ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 tới khoa cuối cùng là khoa
Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống năm thứ nhất (1787) tính cho đủ phải tới 124 khoa thi Đình,
nếu chỉ kể các khoa thi Tiến sĩ, không kể các khoa Đông Các và Chế khoa thì cũng phải 117
khoa và theo đúng điển lệ triều Lê thì phải lập đủ 117 tấm bia đề tên Tiến sĩ. Thế nhưng trải qua
bao cơn binh lửa, vật đổi sao dời, số bia hiện có chỉ còn 82 tấm. Nhiều tấm ngày nay chữ đã mờ
không sao đọc nổi. Nhiều tấm bia nọ lắp vào rùa kia, nhiều tấm nứt vỡ phải gắn chắp lại. Tháng
4/1976, Viện khảo cổ học phối hợp với Phòng Bảo tồn bảo tàng, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội
đã khai quật được thêm một con rùa đá để bia chìm sâu dưới lòng hồ cạnh Khuê Văn Các. Năm
sau lại tìm được một con rùa nữa. Thân bia chưa thấy, song hai con rùa để bia đã nâng con số bia
Tiến sĩ lên số 84 con. Non 5 thế kỷ chuyện nương dâu bãi bể tất chẳng tính hết.
Lần tu sửa nhà bia cuối cùng vào niên hiệu Tự Đức năm thứ 16 (1863). Hồi ấy Bố chính Hà Nội
là Lê Hữu Thanh cùng với thụ Hậu quân Đô thống, Tổng đốc Hà Ninh là Tôn Thất Hàn và Án
sát Hà Nội là Đặng Tá khởi xướng việc thu tập các bia tản mát dựng vào hàng lối như ngày nay.
Rồi làm hai nhà bia, mỗi nhà 11 gian để che mưa nắng cho các di vật quý giá này. Rồi ít lâu sau
hai nhà bia cũng không còn nữa.
Những năm thực dân Pháp xâm lược tạm chiếm Hà Nội, hai vườn bia có lúc hoang vắng, cỏ cao
lút đầu làm cho các nhà nghiên cứu muốn vào tìm tư liệu mà phải “rụt chân lại, dùng dằng, nấn
ná…”
Sau ngày miền Bắc giải phóng 1954, cơ quan văn hóa Hà Nội đã liên tục từng bước tu sửa và
bảo vệ khu di tích Quốc Tử Giám. Hiện nay hai vườn bia đã sạch sẽ phong quang, lại được làm

nhà bia che mưa nắng, khách trong nước cũng như nước ngoài ngày nào cũng tấp nập tham quan;
những nhà nghiên cứu, điêu khắc, hoạ sĩ cũng tới đây sao chép nghiên cứu không ngớt.
Đại Thành Môn – Ngọc Thành Môn – Kim Thành Môn
Qua cửa Đại Thành là vào khu vực thứ tư, khu vực chính của di tích Quốc Tử Giám - Văn Miếu.,
Hà Nội. Cũng như cửa Đại Trung, cửa Đại Thành là một kiến trúc 3 gian với hai hàng cột hiên
trước sau và một hàng cột giữa. Hàng cột giữa đỡ xà nóc, đồng thời cũng là cột để lắp cửa. Ba
gian đều được lắp cửa hai cánh. Chính giữa, trên giáp nóc có treo một bức hoành khắc 3 chữ:
“Đại Thành Môn” (cửa Đại Thành) theo chiều ngang, đọc từ phải qua trái. Bên phải hai hàng chữ
nhỏ dọc khắc: “Lý Thánh Tông Thần Vũ nhị niên, Canh Tuất thu, bát nguyệt phụng kiến”, có
nghĩa là: “tháng 8 mùa thu năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ năm thứ 2 đời Lý Thánh Tông
vâng sắc xây dựng”.
Bên trái một hàng chữ dọc khắc: “Đồng Khánh tam niên, Mậu Tý trọng đông đại tư” có nghĩa là:
“Tháng 11 năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 3 đại tư”.
Bức hoành sơn thiếp giản dị, là sản phẩm của năm 1888, song nó là minh chứng cho một lần tu
sửa lớn vào thời vua Đồng Khánh nhà Nguyễn và cũng là một bằng cứ gián tiếp cho năm khởi
dựng Văn Miếu vào thời vua Thánh Tông nhà Lý.
Cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn lao) mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính,
nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất Thập Nhị Hiền v.v… và cũng là nơi giảng dạy của
trường Giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào
có ý nghĩa hay hơn.
Hai cửa nhỏ Kim Thành bên phải và Ngọc Thành bên trái nằm ngang với cửa Đại Thành, song
hai cửa này không mở vào thẳng khu vực chính, mà để đi qua con đường lát gạch phía sau hai
dãy Tả Vu, Hữu Vu để tiếp tục qua sang khu Khải Thánh phía cuối cùng của di tích
Văn Miếu – Tả Vu – Hữu Vu
Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng mênh mông lát gạch bát tràng. Hai bên phải trái của
sân là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu. Chính trước mặt tòa Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm
nghiêm trải suốt chiều rộng của sân nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu hai bên, tạo thành
một cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và truyền thống. Sau Đại Bái và song song với Đại Bái,
tòa Thượng Điện có quy mô tương tự cả về chiều cao lẫn bề rộng với Đại Bái là kiến trúc chấm
chót của khu vực thứ 4. Đại Bái Đường nối với Thượng Điện bằng một Tiểu Đình hình vuông.
Nếu tách riêng cụm 3 kiến trúc này ra mà nói thì chúng được xây dựng theo hình chữ Công mà
Tiểu Đình chính là nét sổ giữa và Đại Bái, Thượng Điện là hai nét ngang trên và dưới.
Thượng Điện ở phía sau 9 gian, tường xây 3 phía lưng và đầu hồi, phia trước có cửa bức bàn
đóng kín 5 gian giữa, 4 gian đầu hồi có cửa chấn song cố định. Nhìn chung Thượng Điện kín đáo
và do đó cũng tối hơn Đại Bái, nhưng cái thiếu ánh sáng của kiến trúc này là ý đồ của công trình
sư muốn tạo cho nó một không khí thâm nghiêm, u tịch và công trình sư đã thành công mỹ mãn.
Nơi đây xưa là nơi thờ những vị tổ đạo Nho. Gian chính giữa vốn có cái khám và ngai lớn để
trên một bệ xây, trong có bài vị “Chí thánh tiên sư Khổng Tử”. Cách hai gian hai bên tới những
gian khác cũng có bệ xây và cũng có khám, trong khám có ngai và bài vị. Bên trái có hai ngai
thờ Tăng Tử và Mạnh Tử (thờ các vị Á thánh); bên phải có hai ngai thờ Nhan Tử Tư. Bốn vị
được thờ trên đây tức là Tứ phối được quy định thờ từ ngày mới xây dựng Văn Miếu. Ngoài bài
vị ra, cả 4 vị đều có tượng gỗ sơn son thiếp vàng rất uy nghi.
Hai gian đầu hồi cũng có hai khám lớn xếp chầu vào gian giữa, thờ Thập Triết gồm những vị:
Mẫn tử, Nhiễm tử, Đoan Mộc tử, Trang tử, Bốc tử, Hữu tử, Tề tử, Ngân tử, Suyễn Tôn tử, Chu
tử.
Tòa Đại Bái bên ngoài cũng xây 9 gian, nhưng chỉ xây hai tường hồi, còn mặt trước mặt sau để

trống. Duy có hai gian đầu của mặt trước có xây tường lửng, bên trên lắp chấn song con tiện
bằng gỗ. Nhìn chung kiến trúc này sáng sủa hơn. Tòa Đại Bái này là nơi hành lễ trong những kỳ
tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án thờ, còn các gian khác đều bỏ trống. Ở đây treo
khá nhiều hoành phi câu đối (nhiều thứ nay đã mất). Bức hoành gian giữa khắc 4 chữ: “Khang
Hy ngự thư” và “Đồng Khánh Mậu Tý trọng đông thuật đề” (1888).
Cũng như Thượng Điện, Đại Bái đường mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, kẻ bảy
giản đơn không chạm trổ cầu kỳ, chồng đấu làm theo kiểu đấu đỡ cột chồng rất Việt Nam, những
đầu đao mái cong nhẹ, ngói mũi lợp kiểu vảy rồng, những nơi có chạm trổ rồng mây mang đúng
phong cách nghệ thuật của thời Trung Hưng về sau, nói chung kiến trúc có sắc thái giản dị nhưng
chắc chắn, thanh nhã mà uy nghiêm, một sắc thái Việt Nam riêng biệt rất dễ dàng nhận thấy,
khác hẳn với phong cách kiến trúc đồng thời của những công trình ở các nước láng giềng. Đôi
rồng chầu mặt nguyệt gắn mảnh đồ sứ men màu trên đỉnh bờ nóc, chắc chắn được làm vào thời
Nguyễn, có làm giảm đi ít nhiều giá trị cổ kính của kiến trúc song không sao át nổi đặc điểm
chung của niên đại thời Lê.
Tả Vu và Hữu Vu đều làm 9 gian. Xưa kia Tả Vu và Hữu Vu đều mỗi bên xây 5 bệ kê 5 khám
thờ Thất thập nhị hiền. Kiến trúc cũ đã bị phá hủy sạch cả, kiến trúc hiện còn là sản phẩm của lần
trùng tu thời gần đây. Bệ thờ, khám thờ cũ không còn, Tả Vu – Hữu Vu nay cũng chẳng còn
dùng để thờ tự, dáng dấp kiến trúc không có vị cổ kính như Đại Bái và Thượng Điện, nhưng do
vẫn làm trên nền cũ, phần nào phỏng theo kiểu cũ mà làm và hiện tại dùng làm nơi trưng bày các
di vật lịch sử và cách mạng của kinh đô Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội cho nên cũng góp
phần quan trọng vào cảnh trí chung của cả khu di tích.
Đền Khải Thánh – Quốc Tử Giám
Khu Khải Thánh là khu sau cùng của di tích. Từ Văn Miếu sang đền Khải Thánh người ta có thể
đi theo hai con đừơng lát gạch phía sau Tả Vu và Hữu Vu người ta cũng có thể từ sau lưng
Thượng Điện qua cửa Tam quan. Cửa này là cửa chính cũng xây 3 gian có mái lợp và cánh cửa
đóng mở. Từ bên ngoài vào đền Khải Thánh người ta lại có thể qua một cổng nhỏ có cánh mở ở
góc Đông Nam nơi tiếp giáp với bức tường ngăn hai khu Văn Miếu và Khải Thánh.
Đền Khải Thánh là nơi thờ cha mẹ Khổng Tử là Thúc Lương Ngột và Nhan Thị. Phân nửa diện
tích của khu này là chiếc sân phía trước. Sân bị con đường trục giữa lát gạch ngăn đôi dẫn từ cửa
tam quan lên chính giữa đền thờ. Nửa sân bên trái có hai tấm bia do Hoàng Giáp Lê Hữu Thanh
Bố chính Hà Nội; Thự hậu quân Đô đốc Tôn Thất Hân, Tổng đốc Hà Ninh; Hàn lâm thi giảng
Đặng Tá, Án sát Hà Nội dựng ngày 6/12 niên hiệu Tự Đức năm thứ 16 (1863). Văn bia do Lê
Hữu Thanh soạn. Qua văn bia có thể khảo cứu thêm được về tình hình bia Tiến sĩ và nhà bia của
Quốc Tử Giám. Thật cũng có thể gọi là một tư liệu quý.
Kiến trúc đền Khải Thánh sơ sài hơn song cũng có Tả Vu, Hữu Vu hai bên và đền thớ ở giữa.
Đền Khải Thánh xưa là Quốc Tử Giám, nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều thời đại.
Năm 1946, quân Pháp đã bắn đại bác phá hủy sạch không còn lại một kiến trúc nào. Dấu vết còn
lại ngày nay: những nền điện, tường đổ, vài chiếc cổng cuốn lở lói, những mảnh sân, đoạn
đường, những bồn xây để trồng cây… có chăng chỉ còn cho phép dựng lại mặt bằng của khu kiến
trúc xưa mà thôi.
Khổng Tử là người Trung Quốc, Nho giáo là sản phẩm bắt nguồn từ Trung Quốc. Chế độ dựng
Văn Miếu thờ Khổng Tử cũng do Trung Quốc chế định.
Việc dựng Văn Miếu ở Việt Nam tất không thể không phỏng theo chế độ Trung Hoa. Song sự
khác biệt giữa Văn Miếu Việt Nam và Văn Miếu Trung Quốc lại rất lớn và rất rõ ràng. Trước hết
như trên đã nói, Văn Miếu Hà Nội không chỉ là một nhà quốc tế mà vai trò chính của nó là một

nhà quốc học. Về mặt kiến trúc cũng vậy, bàn tay người thợ Việt Nam đã tạo cho Quốc Tử Giám
– Văn Miếu một sắc thái Việt Nam, một bố cục hoàn toàn khác hẳn.
So sánh qua với kiến trúc thờ Khổng Tử ở Khúc Phụ, Trung Quốc, chẳng khó khăn gì mà ta
không nhận ra những điểm dị đồng. Cả hai nơi Khúc Phụ và Hà Nội đều có những kiến trúc
mang tên chung như Đại Trung Môn, Khuê Văn Các… Điểm giống nhau chỉ là tên gọi mà thôi.
Nhìn chung bố cục kiến trúc ở Khúc Phụ quy mô lớn hơn, đi từ đầu tới cuối phải qua 10 cổng;
kiến trúc rậm rì hơn. Kiến trúc ở Hà Nội quy mô nhỏ hơn, đi từ đầu tới cuối chỉ qua 5 cổng. Kiến
trúc thoáng hơn song cảnh trí xung quanh như cây cối, hồ nước thanh nhã, phong quang thì rõ
ràng hơn hẳn.
Khu Khải Thánh ở Khúc Phụ, xây dựng ở bên trái khu thờ Khổng Tử; ở Hà Nội lại dạt đằng sau
và chính cũng là nơi trường Giám của những triều đại cũ.
Nếu đi sâu vào từng kiến trúc, từ cột kèo, chồng đấu cho tới những bức ván chạm trổ thì một
Trung Quốc, một Việt Nam không sao lẫn nổi. Cho dù bóng dáng kiến trúc thời Lý, thời Trần
này không còn dấu vết nơi đây, phần lớn các kiến trúc đều là sản phẩm thời Lê Mạt, song Quốc
Tử Giám – Văn Miếu Hà Nội vẫn giữ được trọn vẹn giá trị của một khu di tích kiến trúc cổ Việt
Nam xứng đáng được bảo tồn mãi mãi.
Ngày 8/10/2000, khu nhà Thái Học đã được khánh thành sau một năm xây dựng nhân kỷ niệm
990 năm Thăng Long – Hà Nội. Khu nhà Thái Học có diện tích xây dựng 1530m2 trên sân nền
nhà Thái Học cũ 6150m2. Như vậy, sau bao nhiêu năm trăn trở muốn phục hồi tái hiện lại Văn
Miếu – Quốc Tử Giám đã thành hiện thực sau nhiều năm bị bỏ hoang.
Văn Miếu Quốc Tử Giám còn là nơi gặp gỡ, trao đổi tụ tập của các văn nhân, trí thức nổi tiếng
về các vấn đề học thuật, kinh nghiệm sáng tác, giảng dạy… Đặc biệt Tết năm 1962 trong một
buổi ngâm thơ đón xuân, trong lúc các bài thơ hay đang được trình bày thì có một cụ già bên
ngoài bước vào và mọi người đều mừng rỡ reo lên: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Vâng, chính là Hồ Chủ
tịch. Người đã ngồi nghe ngâm thơ và sau đó đã tặng lại các cụ hai câu thơ sau:
Tuổi già nhưng chí chưa già
Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh
Ngày nay Văn Miếu Quốc Tử Giám đã trở nên một di tích lịch sử quý báu của Hà Nội nói riêng
và cả nước nói chung. Với những công trình kiến trúc trang nhã và mang đậm màu sắc văn hóa
dân tộc, những hàng cây cổ thụ tỏa bóng thật cổ kính, nơi lui tới của khách tham quan trong và
ngoài nước. Văn Miếu Quốc Tử Giám mãi mãi là nơi ghi dấu những truyền thống văn hóa, giáo
dục rạng rỡ trong lịch sử dựng và giữa nước của dân tộc Việt Nam ta.
Chu Văn An
Cao sĩ đời Trần, tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, quê Quang Liệt, Thanh Đàm (sau đổi là Thanh Liệt,
Thanh Trì), Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội).
Đời Trần Minh Tông, ông làm Quốc Tử Giám Tư nghiệp và dạy các con vua. Vào lúc này ông
soạn sách Tứ Thư Thuyết Ước, học thuyết của ông là: “Cùng lý, chính tâm, trừ tà, cự bế”, chú
trọng về phương diện thực hành của Khổng giáo. Nhiều học trò của ông cũng là danh sĩ đương
thời như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh…
Đời Dụ Tông, ông dâng sớ xin chém 7 tên quyền gian, vua không nghe, ông từ chức về ở núi
Kiệt Đặc, Chí Linh, Hải Dương, dạy học trò, làm nhà ở giữa hai ngọn Kỳ Lân, Phượng Hoàng.
Ít năm sau, Trần Dụ Tông có chỉ triệu, nhưng ông từ chối nên vua giận. Bào Từ Hoàng thái hậu
nói: “Người ấy là bậc cao hiến, thiên tử không có quyền bắt người ta làm tôi được, giao thế nào
được chính sự cho người ta”. Tuy từ quan, song chỉ khi nào nhà nước có việc triệu hồi ông mới

chịu đến. Năm 1370, ông mất, Trần Nghệ Tông ban ân thụy là Văn Trình, hiệu Khang Tiết, thờ
nơi Văn Miếu.
Ngoài bộ sách Tứ Thư Thuyết Ước ông còn tập thơ chữ Hán Tiều Ẩn thi tập và tập thơ bằng
quốc âm Quốc Ngữ thi tập (tập này sau bị quân Minh lấy đem về Trung Quốc).
Phê bình Tiều Ẩn thi tập, Phan Huy Chú cho là: “Thi cực thanh sảnh u dật, nhàn nhã tự tại, do
khả tưởng kiến ẩn cư nhi cao thú dã” (lời thơ rất sáng suốt, nhàn nhã tự tại, còn có thể tưởng
tượng được cái thú cao ở ẩn).
Nguyễn Hiền
Danh sĩ đời Trần Thái Tông, không rõ năm mất, quê Dương A, Thượng Hiền, Hà Đông (nay
thuộc Hà Tây). Ông nổi tiếng thông minh, hay chữ, ngay từ tuổi trẻ đã được người đời khen là
thần đồng. Vào năm Thiên Ứng Chánh Bình thứ 16 (năm 1247) triều đình mở đại khoa lấy các
Thái học sinh (Tiến sĩ), ông vào ứng thí lúc ấy mới có 13 tuổi (không biết sách Đại Việt lịch
triều đăng khoa lục có chép nhầm chăng, nhưng cũng ghi rõ là khoa này Đặng Ma La cũng 14
tuổi, Lê Văn Hưu cũng 17 tuổi). Đây là khoa thi đỗ Tam khôi đầu tiên và ông là người đỗ Trạng
nguyên khai khoa của Khoa cử Việt Nam: Trạng nguyên là ông lúc ấy mới 13 tuổi, thứ nhì là
bảng nhãn Lê Văn Hưu 17 tuổi, thứ 3 là Thám hoa Đặng Ma La (14 tuổi).
Về tổ chức khoa cử đời nhà Trần, đây là khoa thứ 3 mà cũng là khoa đầu tiên lấy đỗ Tam khôi.
Như vậy, ông nghiễm nhiên là Tam khôi thứ nhất trong lịch sử thi cử đời Trần mà cũng là người
đỗ Trạng nguyên đầu tiên và sóm nhất, trẻ nhất của nền khoa cử nước nhà. Ông làm quan đến
chức Thượng thư, có lúc trông coi Quốc sử quán và mất tại chức.
Nho giáo
Khoảng xấp xỉ 3000 năm trước đây, Trung Hoa đã có sự phân hóa xã hội khá mạnh mẽ. Lúc đầu
từ vài nghìn lãnh địa, qua sự thôn tính lẫn nhau mà dần còn bảy nước. Trong xu hướng ấy, người
ta mong có một hình thức tổ chức để bình định thiên hạ. Nền tảng lý luận cho sự kiện này được
rút ra từ thực tế lịch sử, những gì phù hợp và là điểm nổi trội của quá khứ được các trí thức
đương thời đúc kết lại thành chuẩn mực cho mọi xử thế của xã hội. Nho giáo dần hình thành.
Nhưng phải tới tận thời Khổng Tử, dưới sự tổng kết, san định lại của ông và các học trò thì cơ sở
lý luận của Nho giáo bước đầu mới thực sự hoàn chỉnh. Nhìn chung hệ triết học này khởi đầu
nặng về yếu tố nhân sinh quan, nhằm mục đích tổ chức xã hội, bình thiên hạ. Yếu tố vũ trụ quan
ít được quan tâm. Chỉ từ Khổng Tử, Kinh Dịch được hội nhập vào hệ thống giáo lý này, Nho
giáo mới trở nên đầy đủ hơn. Đương nhiên, cũng như các hệ triết học khác, Nho giáo không phải
lúc nào cũng là chuẩn mực ổn định, mà luôn luôn được chỉnh lý và bổ sung để thích hợp với điều
kiện xã hội mới, vì thế mà có Hán Nho, Tống Nho… Nhưng suy cho cùng, Nho giáo vẫn phải
dựa trên nền tảng của Tứ Thư, Ngũ Kinh.
1.Tứ Thư: Bốn bộ sách kinh điển là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử
- Đại học: Sách dạy đạo người quân tử, gồm hai phần: một phần chép lời Khổng Tử, một phần
chép lời Tăng Tử. Nội dung có thể tóm gọn là Tu thân (sửa mình), Tề gia (chỉnh đốn việc nhà),
Trị quốc (cai trị đất nước), Bình thiên hạ (giữ yên xã hội). Đồng thời người quân tử phải Cách
vật (thấu hiểu mọi sự vật), Trí tri (biết tới ngọn ngành), Thành ý (thành thực), Chính tâm (lòng
phải chính đính).
- Trung Dung: Phải ăn ở đúng mực, không thái quá, không bất cập. Phải giữ được Trí: để biết rõ
sự lý; Nhân: để theo điều thiện, Dũng: để kiên trì vượt khó mà hành thiện.
- Luận Ngữ: ghi lời răng dạy học trò của Khổng Tử bằng những lời đối thoại giữa Khổng Tử với
các triết gia, chính trị gia đương thời. Sách này dạy đạo làm quân tử một cách thực tiễn.
- Mạnh Tử: Sách do Mạnh Tử soạn, kế thừa giáo huấn của Khổng Tử, coi vua chúa là thánh nhân

thể theo ý trời mà hành đạo, nên mọi người phải nghe theo. Ý thức Mạnh Tử ít nhiều có tính điều
hoà:
coi bản chất con người là tốt, kẻ cầm quyền quý tộc phải biết tự chế để xã hội được ổn
định.Mạnh Tử
đưa ra một số quan điểm tiến bộ với thuyết nhân chính (bớt đánh nhau, thôn tính, cải thiện đời
sống
nhân dân), thuyết dân vi quý, quân vi khinh (coi trọng dân, coi nhẹ vua). Ông nói: không có quân
tử,
ai trị dân, không có tiểu nhân ai nuôi quân tử.
2. Ngũ kinh :
Kinh thi: Gồm những bài ca dao dân gian và nhạc chương nơi triều miếu do Khổng Tử sưu tầm
tuyển chọn.
Kinh thư: do Khổng Tử sưu tập, nội dung ghi về phép tắc, mưu kế, lời dạy dỗ, lời truyền bảo, lời
răn tướng sĩ, mệnh lệnh của các vua từ Nghiêu, Thuấn tới Đông Chu.
Kinh dịch: Sách ghi chép về sự hình thành của vũ trụ và thế giới nhân sinh thông qua quy luật
vận động thường hằng của vũ trụ. Cũng bàn tới thuật tướng số dùng trong bói toán.
Kinh lễ: Ghi chép các lễ nghi trong gia đình tới ngoài xã hội, triều đình.
Kinh Xuân Thu: Thực chất là lịch sử nước Lỗ, do Khổng Tử ghi chép công việc từ đời Lỗ An
Công tới Lỗ Ai Công (từ năm 722 tới năm 481 trước công nguyên) từ nền tảng Tứ Thư Ngũ
Kinh các nhà Nho đem trí lực của mình ra giúp đời trị nước. Đạo trị quốc này cũng định hình
trên nền tảng Tam Cương, Ngũ Thường, Ngũ Luân, Tứ Đức…
Đạo Nho cũng một thời gian dài là tư tường chính thống của Trung Quốc, nó ảnh hưởng mạnh
mẻ tới các nước xung quanh, trong đó có Việt Nam. Ngày nay vai trò của nó đáng được nhiều
nhà nghiên cứu của nhiều nước quan tâm, vì tác dụng của nó vẫn còn rõ nét trong thực tại.
Khổng Tử
Ông là người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông (thuộc nước Lỗ) bên Trung
Hoa, dòng dõi người Tống. Ông tổ 3 đời sang nước Lỗ. Thân phụ là Thúc Lương Ngột làm chức
quan võ nhỏ, đã lấy hai vợ, chỉ được một con trai là Mạnh Bì, nhưng què. Gần già mới lấy bà
Nhan Thị vào tháng mười năm Nhâm Tuất thứ 21 đời Linh Vương nhà Chu (551 trước công
nguyên) sinh ra Khổng Tử. Do Nhan Thị lên núi Ni Khâu cầu tự, nên ông có tên là Khâu (tự là
trọng ni) cũng có ý ông có trán cao gồ nên gọi là Khâu. 3 tuổi thân phụ mất. Thời niên thiếu,
Khổng Tử rất trọng những điều lễ nghĩa. Năm 19 tuổi lập gia thất rồi làm Uỷ Lại, coi gạo thóc
sau làm Tư Chức Lại coi việc nuôi bò dê để cúng lễ. Ông rất chú ý tới lễ nghi theo Nho Thuật,
sớm nổi tiếng. Khoảng năm 28, 29 tuổi ông muốn đến kinh sư nhà Chu để học nhưng không có
kinh phí, sau được Lỗ Hầu giúp đỡ đưa đi. Ở đây, Khổng Tử khảo cứu Minh Đường của nhà
Chu, các nơi tế xã tắc và những việc có quan hệ tới tế lễ… một cách rất kỳ công. Trở về Lỗ, học
trò Khổng Tử ngày một đông, nhưng ông vẫn không được vua Lỗ dùng. Gặp nạn, ông sang Tề,
bị quan đại phu Yến Anh dèm pha, Tề hầu không dùng, ông lại về Lỗ. Lúc đó 36 tuổi, tới 51 tuổi
được Lỗ hầu dùng làm quan, tiến tới Đại Tư Khấu, rồi Nhiếp Tướng Sự, nước ngày một thịnh.
Sau bị Tề ly gián, Khổng Từ bỏ quan đi chu du thiên hạ, mong đem thi hành cái đạo của mình.
Ông qua Vệ, sang Tống, tới Tần, về Vệ… nhưng đạo của ông mãi không thành công. Đi về với
nước Vệ nhiều lần, vua Vệ vẫn không dùng, mà tuổi ngày một già. Ông định sang Tấn, rồi tới
Trần, tới Thái, qua Diệp, đến Sở… ở đâu cũng có duyên cớ để không dung đạo của ông, vì đạo
lý này phản đối quyền lợi của các Vua chư hầu và Quan đại phu. Chủ nghĩa của Khổng Từ cốt ở
hành đạo, ai có tài trí thì phải ra giúp đời vì thế chí của ông là muốn làm quan để hành đạo, để

giáo hóa và cải cách chính trị. Song sự nghiệp không thành. 68 tuổi trở về Lỗ đã già, ông không
cần làm quan nữa, ở nhà dạy học, san định sách vở đời trước và làm sách Xuân Thu để nói cái
đạo về chính trị của mình.
Khổng Từ người cao, mắt lồi, lỗ mũi rộng, lộ hầu, tai bạt, hở răng, mặt có vạch, tay hổ, ngực rùa,
râu rậm, miệng rộng, nói tươi, đi nhanh. Tính ôn hòa, trung thực, nghiêm trang, kính cẩn, khoan
thai, cẩn thận (nhất là trong tế tực), nhân hậu, thích đàn hát, rất hiếu học và hay suy xét việc đời
xưa không hề khinh suất... Ông là một người chí nhân thánh nhưng vẫn khiêm tốn. Ông đem cái
đức sáng mà giáo hóa chứ không phải đem cái biết mà bảo cho người. Mùa xuân Canh Thân năm
thứ 41 đời vua Kinh Vương nhà Chu thì ông mất.
Khổng Từ đã hệ thống hóa những tri thức và tư tưởng trước ông, chủ yếu là các vấn đề đạo đức
và chính trị, suy xét lẽ biến hóa của trời đất lập thành học thuyết là môn “nhân sinh triết học” cho
trời đất và muôn vật đều đồng một thể, theo cái lẽ tương đối, tương đều hòa mà sinh sinh hóa
hóa. “Con người là cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái
khí tinh tú của ngũ hành. Nhờ đó mà con người hiểu điều phải trái, hay dở… để cùng trời đất
chiếm địa vị tôn quý ở vũ trụ (Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân). Như thế con người phải có tri giác,
đề cao thiên lý lấy, thần minh làm chủ thể, giữ cái tâm hư tĩnh tránh vẫn đục, nhằm đạt được cái
trực giác mẫn nhuệ, biết rõ cái lẻ ở đời. Là Trung Dung, Sinh, Nhân, Thiên mệnh, Quỷ thần, kính
và thành, sự sinh tử… Từ đó hiểu được đạo của ông là theo con đường lớn mà đi. Đạo ấy gồm
cái phải, cái hay, tổng hợp các đức tính tốt mà tạo thành nhân cách hoàn toàn của con người. Ở
trong đạo ấy không trái nhau, đức nhỏ thì phân minh, đức lớn thì đôn hậu mà sinh hoá khôn
cùng. Đạo của Khổng Tử chỉ theo lẽ thường cốt xây cái lương tâm sáng suốt, chống cái tư dục
ám muội, việc làm là phải hợp thời thuận lý, đó là thứ đạo chiết trung, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí,
hiếu, trung tín làm đạo thường, lấy Trí Thiện Đức Nhân làm cực điểm…
Nhìn chung đạo của Khổng Tử rất thích hợp với Trung Hoa, nó tạo được thế quân bình cho một
xã hội đất rộng người đông đã phân hoá cao. Đạo này được nhiều người tin theo, đã sản sinh
nhiều danh nho trong lịch sử, và hiện nay vẫn còn tác động tới tâm tưởng người Trung Quốc,
cũng như một số nước kế cận chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa.
Hồ Gươm
Hồ Hoàn Kiếm là một đoạn dòng cũ của sông Hồng còn sót lại. Hồ này ngày xưa gọi là hồ Lục
Thuỷ, vì sắc nước bốn mùa đều xanh, còn tên Hoàn Kiếm hay là hồ Gươm, theo như tục truyền
thì có từ đời Lê Thái Tổ. Người ta nói vua Lê Thái Tổ trước khi khởi nghĩa ở Lam Sơn chống
quân xâm lược nhà Minh, được thần cho một thanh kiếm. Năm 1428, lấy lại hoàn toàn được đất
nước, lên làm vua, đóng đô ở Thăng Long, một hôm nhà vua ngự thuyền chơi trong hồ, bỗng
thấy một con rùa vàng nổi lên. Nhà vua đang cầm thanh kiếm ở tay với chém theo, con rùa ngẩng
cao cổ đớp lấy thanh kiếm rồi lặng xuống đáy hồ. Nhà vua sai tát cạn hồ để tìm, rùa không thấy
đâu mà kiếm cũng mất, nên cho đó là thần đã cho kiếm để giết giặc, nay giặc yên rồi thần lại lấy
kiếm đi, bèn đổi tên hồ là Hoàn Kiếm, nghĩa là trả lại kiếm thần.
Theo hình thế thiên nhiên có vẻ kỳ quan, các cụ ngày xưa đã hình dung hồ này là: giáp điệp
xuyên hoa cách, nghĩa là: kiểu đất bươm bướm châm hoa
Vì hồ này xưa kia phạm vi rất rộng và có hai phần đối nhau như hai cánh bướm xoè ra. Phần trên
vào khoảng từ Hàng Đào, Hàng Dầu, trở xuống Hàng Khay; phần dưới từ đó trở xuống Hàng
Chuối bây giơ. Chỗ hai phần giáp nhau bằng một khoảng đất dài là làng Cựu Lâu, tức là khoảng
Hàng Khay xuống gần Nhà hát lớn, khoảng đất ấy như hình thân con bướm.
Từ cuối thế kỷ XVI trở về sau, Trịnh Tùng sau khi đã đánh đuổi được họ Mạc lấy lại giang sơn
cho nhà Lê, cậy công bắt ép vua Lê phải phong cho mình và con cháu nối nghiệp về sau đều làm
vương (người bấy giờ gọi là Chúa). Họ Trịnh đã được làm chúa rồi, lập phủ đệ ở riêng một khu

chiếm suốt cả phường Báo Thiên. Phủ đệ của chúa Trịnh cũng không kém gì cung điện của vua
Lê, nơi làm việc dù không gọi là triều đình, chỉ gọi là phủ liêu, nhưng cũng có đủ văn võ bá
quan, quân lính thị vệ, nghi thức lại còn oai hơn vua Lê nữa. Phủ chúa suốt một dãy có 52 tòa lâu
đài dinh thự, đều ngoảnh mặt ra hồ Hoàn Kiếm. Theo hướng ấy, các đời chúa Trịnh mới gọi phần
hồ trên là Tả Vọng, phần hồ dưới là Hữu Vọng. Gọi là “Vọng” theo ý riêng của giai cấp phong
kiến họ Trịnh là cả hai bên hồ đều trông chầu vào phủ chúa. Và bên hồ Tả Vọng, các đời chúa
Trịnh xây những nguyệt đài, thủy tạ trên bờ để làm nơi ngự chơi, đặc biệt là xây một cái đình ở
trên gò Rùa (Tức là tầng dưới tháp Rùa ngày nay).
Lại nhân hình thế hồ có hai phần đối nhau như thế, chúa Trịnh liền dùng làm nơi luyện tập thủy
quân, dựng một đài cao ở khoảng đất giữa, gọi là duyệt võ đài, hai bên hồ làm trận địa của hai
đối phương, cùng nhau biểu diễn các chiến pháp thủy công. Chúa Trịnh ngồi trên đài cao xem
xét để định được thua, hơn kém. Cũng vì vậy mà đời ấy gọi là hồ Thủy Quân.
Tất cả lâu đài, dinh thự và kiến trúc vật ở bờ hồ, về sau đều bị Lê Chiêu Thống đốt hết, duy có
Tả Vọng đình ở ngoài hồ nên may mà còn lại.
Về phía Đông Nam hồ này, vào đời Hồng Đức có đào một ngòi nhỏ thông ra sông cái,để các
thuyền nhỏ ở ngoài sông có thể vào trong hồ được. Nhưng về sau hàng năm mùa nước sông lên,
không cách chắn giữ nước sông tràn vào ngập cả nội thành, nên đã phải lấp bỏ.
Về hai phần hồ này, nhất là hồ Hữu Vọng, cứ bị lấp dần dần. Hồi thực dân Pháp mới chiếm cứ
Hà Nội, vẫn còn khá rộng, người ta gọi riêng là hồ Thủy Quân. Sau đó thực dân Pháp cho lấp
hẳn, không còn lại dấu vết. Còn phần hồ Tả Vọng về phía Bắc và phía Đông là khoảng từ Hàng
Đào đến Hàng Dầu, 70 năm trước vẫn là một làn nước không sâu lắm, người ta bắc những cái
cầu gỗ nối nhau để làm lối đi lại giao thông, rồi thực dân Pháp cũng lấp dần để làm đường và mở
một phố gọi là phố Cầu Gỗ; ngoài ra các phía bờ hồ kia cũng bị lấp mất nhiều, chỉ còn lại một
phần nhỏ như chúng ta thấy ngày nay.
Những cổ tích ở Hồ Gươm
Hồ Gươm ở vào giữa thành phố, là một thắng cảnh đem lại nhiều thi vị cho đời sống của nhân
dân thủ đô. Vì vậy, hồ Gươm từ xưa luôn luôn là một đề tài cho bao mặc khách, tao nhân cùng
nhau ngâm vịnh, nhưng những thơ ca ấy phần nhiều bằng Hán văn, còn quốc văn có rất ít. Một
bài thơ tả cảnh hồ Gươm không rõ tác giả là ai vào khoảng hơn 60 năm trước đây, vẫn còn nhiều
người truyền tụng:
Bóng tháp lô nhô lớp sóng cồn,
Dịp cầu nho nhỏ ghếch sườn non
Nước trong chùa vẫn tăm thần kiến
Đường rộng còn trơ dấu pháp môn.
Kim cổ treo chung tranh thủy mạc
Tang thương chớp nhoáng bóng hoàng hôn
Nghìn thu suy thịnh gương còn đó
Coi thử vầng trăng khuyết lại tròn.
Quanh Hồ Gươm hoặc ở giữa hồ, có nhiều kiến trúc vật, nhưng trải qua bao cuộc biến đổi, phần
nhiều đã bị tàn phá, nay chỉ còn rất ít. Những vật còn lại ấy, như đền bà Kiệu dựng lên từ đời Lê
Thần Tông (1619-1628) chỉ là do lòng tín ngưỡng của nhân dân mà lập ra, không có giá trị gì về
lịch sử; tượng vua Lê dựng trên một đài cao từ đời Thành Thái (1896), do Hoàng Cao Khải lập
ra, sau khi y đã cùng thực dân Pháp đàn áp nghĩa quân Bãi Sậy, để tỏ cuồng vọng muốn ví mình
cũng có công như vị anh hùng áo vải Lam Sơn; tháp chùa Ông Thượng tức là cây tháp hiện còn

ở trên bờ hồ về phía đại lộ Đinh Tiên Hoàng ngày nay, là một cây tháp ở sau chùa Báo Ân, một
ngôi chùa to lớn do Thượng Giai lập ra từ đầu thời Minh Mạng và đã bị thực dân Pháp phá tan,
chỉ còn sót lại cây tháp ấy. Trừ 3 vật kiến trúc kể trên, riêng có hai nơi sau này vừa là cổ tích mà
cũng là thắng tích của thủ đô, xin lần lượt giới thiệu sau đây.
Tháp Rùa
Như đã nói ở trên, gò Rùa là nơi chúa Trịnh dựng Tả Vọng đình để làm nơi nghỉ mát trong mùa
hè. Năm 1884, một tên tay sai của thực dân Pháp là Bá Kim hay Thượng Kim, tin thuyết phong
thủy nói gò này là kiểu đất “vạn đại công khanh”, để được hài cốt tiên nhân vào đó con cháu sẽ
được muôn đời nối nhau làm quan cao chức trọng. Bá Kim thèm muốn đất ấy nhưng vì là đất
công nên không dám tự tiện. Về sau (bấy giờ chùa Báo Ân ở trên bờ hồ phía Đông vẫn còn), y
mượn cớ xin với nhà chùa, lấy thế bọn thực dân và Việt gian Nguyễn Hữu Độ, xin tự bỏ tiền nhà
xây một ngọn tháp lên trên gò Rùa để làm hậu chẩm cho ngôi chùa.
Đã được phép làm, nhưng theo ý mọi người, y phải để nguyên Tả Vọng đình, đào móng xây
thêm cho vững chắc rồi xây các tầng tháp lên trên đỉnh. Y lập tức cho khởi công. Để thực hành
âm mưu đen tối, y dùng riêng một số tay chân lành thợ nề, dự định ngay đêm hôm khai móng,
chờ đến khuya tối trời đem hài cốt cha mẹ đã để sẵn trong hai cái quách nhỏ, ngầm chôn xuống
giữa gò, rồi lấp kín, định hôm sau sẽ xây thành nền tháp cao. Việc y làm rất kín đáo tưởng không
ai biết, đinh ninh từ đó gò Rùa là đất lành muôn đời phát phúc của nhà y. Nhưng một việc xảy ra
không ngờ: sáng hôm sau y hớn hở cùng người nhà và thợ nề vừa ra tới gò thì bỗng kêu trời và
ngã ra, hai cái quách gỗ đã bị quật lên từ lúc nào, chỉ còn quách không, hai bộ hài cốt đều không
thấy đâu nữa. Thì ra đã bị bới lên vứt cả xuống hồ rồi.
Đã không thực hiện được âm mưu nhưng đã hứa với mọi người là xây tháp không thể bỏ được, y
đành phải cắn răng tiếp tục làm cho xong việc. Khi tháp đã xây xong, tên quan sáu thực dân Pháp
ở Đồn Thủy trước lễ khánh thành ở chùa Báo Ân, đã cấp bằng khen cho y, và những khách thập
phương lui tới dự lễ khánh thành đều ca ngợi y đã làm được một việc “phúc đẳng hà sa”, nhưng
riêng y đã tê tái nỗi lòng, ngậm bồ hòn làm ngọt. Còn thực dân Pháp thì thưởng công cho y bằng
cách gọi tên tháp ấy là tháp Bá Kim.
Tuy nhiên mỗi khi chúng ta đến thăm hồ, đứng xa trông ngắm, 3 chữ “Tả Vọng đình” vẫn còn ẩn
hiện, như để vạch rõ tội trạng của Kim đối đã đang tay bôi nhọ xóa nhòa một di tích lịch sử.
Đền Ngọc Sơn
Ở phía Bắc hồ Gươm có một gò đất hình tròn, người ta gọi là Hòn Ngọc, hay là Ngọc Sơn, diện
tích rộng chừng vài mẫu. Dưới đời nhà Trần, sau trận đại thắng quân Nguyên, một ngôi đền được
dựng trên gò để thờ những anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh. Về sau, đền ấy sụp đổ, đến đời Vĩnh Hựu
nhà Lê (1735-1739), chúa Trịnh Giang dựng lên cung Thụy Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên
bờ phía Đông đối diện với Ngọc Sơn, gọi là núi Đào Tai và núi Ngọc Bội. Đến cuối đời Lê, cung
Thụy Khánh cũng bị Chiêu Thống phá hủy. một nhà từ thiện tên là Tín Trai, nhân nền cung cũ,
lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), chùa này nhường lại
cho một hội thiện đổi làm đền thờ Tam Thánh. Năm Tự Đức thứ 18 (1865), một nhà văn là
Nguyễn Văn Siêu đứng ra sửa lại đền này, đắp phụ thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây Trấn
ba đình để chắn sóng, bắc một cầu từ bờ phía Đông đi vào đền gọi là cầu Thê Húc. Trong đền
này cũng có thờ tượng đức Trần Hưng Đạo, nhưng nguyên ủy chỉ là do lòng mê tín, thờ phụng
để mong tránh họa, được phúc.
Đền Ngọc Sơn ngoài vẻ đẹp về cảnh trí thiên nhiên, chỉ là một đền thường như các đền chùa
khác, nhưng nếu xem xét kỹ đến sự trang trí và xếp đặt của ngôi đền, còn nhận thấy rất rõ ràng là
biểu hiện cả một hệ thống tư tưởng của giới sĩ phu năm, sáu mươi năm về trước, được đào tạo
trong khuôn khổ một chế độ khoa cử hàng ngàn năm. Người đứng ra sửa lại đền như kiểu cách ta

thấy ngày nay là Nguyễn Văn Siêu, một nhân vật kiệt xuất trong làng khoa cử. Khi Nguyễn Văn
Siêu sửa lại đền, chú trọng nhất là thờ thần Văn Xương (một vị thần coi việc văn chương khoa cử
ở thế gian, khi đi thi, người nào văn dở, văn hay, thi hỏng, thi đỗ đều do thần định đoạt). Vì vậy
trong thời đại lối học khoa cử còn đương thịnh hành, đền Ngọc Sơn hàng ngày ngoài một số
người đến vãn cảnh hành hương, còn số đông là những thầy khóa, thầy đồ khăn đóng, áo dài lũ
lượt đến xin thẻ hay nằm mộng mong thần Văn Xương phù hộ cho sớm được tên chiếm bảng
vàng.
Rải rác khắp trong đền, biết bao thứ nhằm gây thêm tin tưởng cho sĩ phu và ràng buộc chặt chẽ
họ với chế độ khoa cử đương thời. Ngay ngoài cổng vào xây một cây tháp cao trên nền núi Đào
Tai cũ, trên ngọn tháp làm hình cái bút lông, gọi là Tháp Bút; trên cổng phía trong xây một cái
bể con hình nghiên mực gọi là Đài Nghiên. Còn gì tiêu biểu cho việc “sôi kinh nấu sử” ngày xưa
hơn là bút lông và nghiên mực! Sĩ phu lấy đó làm trọng tiến thân, mà các bạn quần thoa cũng lấy
đó làm mức để kén bạn trăm năm đầu bạc.
Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham về cái bút cái nghiên anh đồ
Ở cổng ngoài đi vào đền, hai bức trong trước mặt, người ta lại làm hình một bên bảng rồng, một
bên bảng hổ, tượng trưng hai thứ bảng vàng nêu tên những người đỗ trong các kỳ thi, khiến cho
sĩ phu hàng ngày qua lại nhìn vào đó đều đặt sẵn một tương lai vinh hiển cho đời mình. Hai bên
bảng vàng là một đôi câu đối:
Nhân gian văn tự vô quyền, toàn bằng âm đức
Thiên thượng chủ tư hữu nhãn, đan khán tâm điền
Đại ý nói, học trò đi thi không quan hệ ở văn chương dở hay hay, cốt là phải có âm đức, thần
Văn Xương ở trên trời luôn luôn nhìn xuống, xét xem lòng thiện ác của con người.
Những thơ ca để trong đền phần lớn ngụ ý ấy cả. Những ân đức mà họ khuyên răn hằng ngày
phải có, trước hết là phải kính tiếc những giấy chữ, vì chữ là của thánh hiền, không tôn kính là có
tội, đã có tội thì thi không đỗ. Muốn để thực hành việc tôn kính ấy, có một cái đình nhỏ ngay bên
cạnh đền trong, gọi là “kính tích tự chỉ đình” để thiêu hoá những giấy có chữ. Rồi họ lại làm ra
những quyển kinh âm chất, trong đó kể những chuyện làm như sự thật, những người vì biết tôn
kính giấy chữ đã được vẻ vang như thế nào, trái lại những người không biết tôn kính giấy chữ đã
khổ sở ra làm sao. Do quan niệm như thế, ở thủ đô này năm sáu mươi năm về trước, hằng ngày ở
các đường phố có những ông, những bà vẻ mặt kính cẩn, vai gánh đôi bồ con, bên ngoài mỗi bồ
có đề 4 chữ “kính tích tự chỉ” nghĩa là kính tiếc giấy chữ, thủng thẳng bước đi, mắt chăm chăm
nhìn xuống đất, hễ thấy mảnh giấy chữ nào, hai tay kính cẩn nhặt lấy bỏ vào bồ, hết ngày lại
mang về đền Ngọc sơn, bỏ vào cái đình con làm lễ thiêu hoá. Những ông bà ấy, phần nhiều là
những nhà đại phú trong thành phố, chữ “phú” đã có rồi, chỉ còn thiếu có chữ “quý” nữa, nên
dốc lòng và đích thân đi làm việc ân đức ấy, để mong cho con cháu đều bảng vàng tên chiếm, để
được phú quí dồi dào cả hai.
Trong năm 1997, UBND thành phố Hà Nội có ý định nạo vét, tôn tạo lại hồ thì cũng năm đó là
năm rùa nổi lên nhiều nhất trong lịch sử - 41 lần. Rùa ở Hồ Gươm là một trong những giống rùa
rất quý hiếm trên thế giới có tuổi thọ từ 300 - 500 năm. Năm 1968 nhân dân thành phố Hà Nội đã
vớt được một con rùa có chiềudài 2,8m nặng gần 150 kg. Và hiện nay xác rùa này được trưng
bày tại đền Ngọc Sơn. Chắc chắn rằng ai đã từng đến đây dù là người nước ngoài hay người Việt
Nam sẽ mãi ghi dấu trong lòng mình bóng nước của Hồ Gươm trong xanh, chiếc cầu Thê Húc
như chiếc cầu vòng 16 nhịp, 15 gian thơ mộng soi bóng giữa lòng hồ xanh thẳm. Và không ai
không ước ao một lần được may mắn nhìn thấy tận mắt những cụ rùa quý giá của Hồ Gươm.

Xuân, Hạ, Thu, Đông, trải qua 4 mùa thời tiết đổi thay mặt Hồ Gươm nhuộm đủ sắc mùa duyên
dáng, lúc phẳng lặng như gương, lúc lăn tăn gợn sóng…
Hồ đẹp nhất là vào cuối Thu và đầu Đông, sương mù toả khắp mặt hồ, tháp Rùa bồng bềnh trong
sương sớm. Từng cây sấu, cơm nguội soi bóng nước lung linh. Quên sao được Hồ Gươm vào
aaahè với hàng phượng vĩ, những cây gạo mùa Hè đỏ rực. Đó là nét đẹp cảnh quan hồ thiên
nhiên. Cùng hoà quyện với vẻ đẹp đó, những ngày lễ lớn, nhất là ngày tết, với đủ sắc màu rực rỡ
cờ hoa, pháo hoa càng tô điểm cho Hồ Gươm thêm rực rỡ và đầy kiêu hãnh. Nhà thơ Trần Đăng
Khoa đã rất trau chuốt những vần thơ của mình khi viết về Hồ Gươm :
Hà Nội có Hồ Gươm
Nước xanh như pha mực
Bên Hồ ngọn Tháp Bút
Viết thơ lên trời cao
Công Viên INDIRA GANDHI (Inđira Găngđi)
Nằm giữa 4 phố Đinh Tiên Hoàng, Lê Lai, Lê Thạch và Ngô Quyền, công viên này nguyên là
phần đất của một ngôi chùa cổ - chùa Phổ Giác, tức chùa Tàu - của làng Hậu Lâu. Năm 1883,
thực dân Pháp chiếm xong Hà Nội, bắt chùa này chuyển tới vườn viện Thái Y, nay là phố Ngô Sĩ
Liên để lấy chỗ xây dựng toà Đốc Lí, kho bạc, bưu điện và một vườn hoa. Năm 1886 nhân Tổng
công sứ PônBe chết, thực dân Pháp lấy tên ông đặt tên cho vườn hoa này. Năm sau, thực dân lại
đúc tượng ông ta đặt tại đây. Năm 1890 lễ khánh thành tượng được tổ chức rùm beng.
Năm 1945, sau đảo chính Nhật, Thị trưởng Trần Văn Lai cho hạ tượng này. Sau cách mạng,
vườn hoa đổi tên là vườn hoa Chí Linh. Đó là địa danh một vùng núi phía tây Thanh Hoá, một
căn cứ của nghĩa quân Lê Lợi. Đặt tên này vì công viên nằm gần Hồ Gươm liên quan đến truyền
thuyết về vua Lê trả gươm thần và trên bờ hồ phía Tây có tượng và đền Vua Lê. Xung quanh hồ,
ngoài phố Lê Thái Tổ, có các phố mạng tên các danh tướng của vua Lê: Lê Thạch, Lê Lai,
Nguyễn Xí, Trần Nguyên Hãn…
Năm 1984, thắt chặt tình hữu nghị Việt - Ấn công viên mang tên thủ tướng Ấn Độ INDIRA
GANDHI
Khu phố cổ
Ở Việt Nam, có lẽ ngoài Hội An ra chỉ có Hà Nội là còn giữ được một khu phố cũ. Đành rằng do
khí hậu thời tiết, nguyên vật liệu xây dựng và do các cuộc chiến tranh nên diện mạo của khu vực
này như hiện thấy cũng chỉ có từ thế kỷ 19, nhưng theo các nguồn sử liệu khác nhau thì khu vực
này đích thực là nhân lõi của kinh đô Thăng Long từ khi mới thành lập, tức cũng là có tới nghàn
năm tuổi.
Nói về địa giới không gian khu phố cổ thì có thể coi đó là một hình tam giác cân có đỉnh là phố
Hàng Than, cạnh Đông là đê sông Hồng, cạnh phía Tây là các phố phố Hàng Cót, Hàng Điếu,
Hàng Da, còn đáy là trục Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ. Tại khu vực này cho tới trước khi
người Pháp tới đều chung một dáng dấp: các phố chi chít dọc ngang kiểu bàn cờ, tất cả những
ngôi nhà ở hai bên đường đều theo kiểu nhà ống. Nhà như một cái ống, bề ngang hẹp, chiều dài
sâu có khi thông ra một ngõ khác, phố khác. Bố cục cũng tương tự như sau: gian ngoài là chỗ
bán hàng hoặc làm hàng, tiếp đó là một khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng. Trên sân có bể cạn
(trong có hòn non bộ, cá vàng), quanh sân là các cây cảnh giàn hoa. Gian nhà trong mới chính là
nơi ăn ở và nối vào đó là khu phụ. Đa số là nhà một tầng lợp bằng những viên ngói nhỏ nhắn với
đặc trưng với hai bức tường hồi vượt cao lên khỏi hai mái, cũng có một số nhà xây thêm tầng gác
nhưng thấp và không mấy khi trổ cửa sổ, nếu có thì rất nhỏ (vì các triều đại cũ cấm dân không
được nhìn mặt vua, nhất là nhìn từ cao khi vua ngự giá trên đường).
Ngày nay, đành rằng qua các biến động của lịch sử, qua sự thích ứng của đời sống xã hội, khu

phố cổ có biến dạng, nơi ít nơi nhiều nhưng bóng dáng ngày xưa vẫn còn lưu lại ở dăm căn nhà
này, ở vài đoạn phố kia và đặc biệt ở cái không gian văn hóa vẫn đậm đà hương vị cổ. Cho nên
khu phố cổ Hà Nội với những ngôi nhà ống nhỏ nhắn, xinh xắn, những con đường ăm ắp người
đi, những đền chùa mái cong mềm mại… tất cả đã làm nên một vẻ đẹp mà ở Việt Nam chỉ thành
phố Hà Nội mới có.
Khu phố cũ
Từ năm 1883 người Pháp chiếm Hà Nội. Năm 1886 đã có một quy hoạch cho thành phố Hà Nội
mới. Ban đầu tập trung cải tạo khu quanh Hồ Gươm. Trên sát mái nhà số 3 Hàng Khay vẫn còn
mang dòng chữ 1886 là năm xây dựng. Sau đó có việc lấp hồ ao, lấp cả sông Tô Lịch và phá tòa
thành cổ cùng tòa lũy đất. Các phố cổ được uốn cho thẳng và thêm các công trình hạ tầng.
Lần lượt xuất hiện các khu phố Tây một hoặc 2, 3 tầng chịu ảnh hưởng của vật liệu xây dựng
mới, hình thức trang trí kiến trúc châu Âu. Khu phố người Pháp tập trung xây dựng trên đất
thành cổ do có nhiều thuận lợi gồm các phố: Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Hoàng Diệu, Điện
Biên Phủ, Lê Hồng Phong, Chu Văn An, Trần Phú… Đường phố rộng, dài, vỉa hè cũng rộng lớn
với hệ thống cây xanh phong phú. Phủ Toàn quyền nay là Phủ Chủ tịch xây dựng trong những
năm 1900 – 1902 bề thế hài hòa. Đặc biệt các biệt thự ở đây thường theo kiến trúc miền Bắc
nước Pháp, mái dốc, các chi tiết trang trí ở cửa, ở nóc cầu kì phức tạp.
Khu Nam Hồ Gươm là một hình chữ nhật mà hai cạnh dài nay là Tràng Thi – Tràng Tiền và
Trần Hưng Đạo, hai cạnh ngang là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Khu vực này được xây
dựng đồng thời với khu vực thành cổ, song quy trình quy hoạch có chậm hơn vì phải giải tỏa
nhiều làng xóm. Nhà hát lớn xây dựng từ 1902 – 1911 theo kiểu Nhà hát Opéra Paris. Phố Tràng
Tiền chủ yếu là của thương nhân người Pháp và một số người Hoa. Tất cả các khu vực này gọi là
khu phố cũ. Đây cũng là một quỹ đô thị rất đặc trưng, quý giá của Hà Nội. Hệ thống quy hoạch
phố xá, quy mô và tỷ lệ kiến trúc của các công trình ăn nhập vào cơ thể đô thị Hà Nội vốn có.
Hầu hết các loại công trình được xây cất ở các đường phố này đều biểu hiện những tìm tòi trong
kiến trúc, đặc biệt theo hướng thích nghi với môi trường truyền thống và thiên nhiên của Hà Nội,
hầu hết được thiết kế với sự chính chắn và lựa chọn cao về thẩm mỹ. Các phố phường xây vào
thời này góp phần rất lớn trong việc tạo lập ra bản sắc kiến trúc đô thị Hà Nội, một thành phố hài
hòa xinh đẹp, xanh tươi, một thành phố mang nhiều tính nhân văn, điều mà các đô thị trên thế
giới đang bị mất dần.
Chợ Đồng Xuân
<Xem thông tin trên ảnh>
Múa rối nước
<Xem thông tin trên ảnh>
Phở <Xem thông tin trên ảnh>
Chả cá
<Xem thông tin trên ảnh>
Cốm
<Xem thông tin trên ảnh>
Nhà hát thành phố Hà Nội
<Xem thông tin trên ảnh>

Đê Yên Phụ
Đê Yên Phụ – một trong những con đê chính dài hơn 1965m ngăn nước sông Hồng tràn vào Hà
Nội. Con sông Hồng đã gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam ta. Hiện nay đê vừa
mới được gia cố, sửa sang đoạn đê đi ngang qua thành phố Hà Nội với trị giá khoảng 90 tỉ đồng
nhân dịp 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Sông Hồng là cái nôi của nên văn minh lúa nước mà
theo nghiên cứu đã có cách đây hơn 10.000 năm qua các di chỉ khảo cổ. Sông Hồng cũng là một
con sông nổi tiếng là hung tợn trong lịch sử. Lúc bình thường vào mùa khô sông Hồng có mực
nước là 2,6m, nhưng vào đỉnh lũ năm 1971 mực nước dâng cao đến 10,8m. Chính con sông
Hồng này đã dạy ông cha ta cách trị thủy, trồng lúa…
Sông Hồng là con sông lớn nhất Việt Nam với lưu vực rộng 70.700km2, sông được bắt nguồn từ
cao nguyên Vân Nam – Trung Quốc, dài 1126km, đoạn chảy vào nước ta dài 556km với hai phụ
lưu quan trọng là sông Đà và sông Lô. Sông chảy thẳng tắp theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Trong địa phận Việt Nam sông chảy qua các tỉnh: Lào Cai, Vĩnh Phú, thủ đô Hà Nội rồi đổ ra
vịnh Bắc Bộ ở cửa Bà Lạt tỉnh Hà Nam. Lưu lượng nước bình quân là 3560m3/s và tổng lượng
dòng chảy là 112 tỉ m3/năm. Sông Hồng có mùa lũ kéo dài 5 tháng từ tháng 6 đến tháng 10.
trong lịch sử, sông Hồng đã chịu đựng 3 trận lũ lớn vào những năm 1913, 1945, 1971. Như đã
nói, do sông phát nguyên từ cao nguyên Vân Nam – Trung Quốc với đất đỏ bazan đặc trưng, nó
đã mang trong mình lượng đất đỏ phù sa này và đặc biệt vào mùa lũ dòng nước vốn dĩ đã đỏ lại
càng đỏ hơn. Chính vì lẽ đó mà từ ngàn xưa con người đã gọi nó là sông Hồng.
Đê sông Hồng
Ở đồng bằng Bắc bộ, mặt nước sông Hồng vào mùa lũ thường cao hơn mặt ruộng và các thành
phố ở hai bên tới 6m. Từ tháng 6 đến tháng 10 là mùa lụt và nếu không có đê che chở thì năm
nào cũng mất trắng vụ chiêm, còn vụ mùa thì trung bình cứ hai năm mất một vụ vì lũ đến sớm
muộn thất thường. Như vậy đồng bằng Bắc bộ không trồng trọt được gì, ruộng thấp thì úng cả
năm, ruộng vừa thì ngập nước trong mùa lụt, ruộng cao thì hạn cả hai mùa.
Công cuộc chống lụt sông Hồng có liên quan mật thiết tới đời sống của nhân dân ta, nên chắc
hẳn là từ khi dân ta bắt đầu định cư đã phải đắp đê. Theo sử sách thì năm 43, ông cha ta đắp đê ở
thành Thông Nông, cách Hà Nội vài chục km về phía Tây Bắc. Có lẽ từ đó và những thế kỷ sau
nữa, ông cha ta chỉ đắp đê quai bảo vệ chống lụt cho từng vùng cần thiết. Mãi đến thế lỷ thứ X
và XII công cuộc đắp đê sông Hồng mới được tiến hành một cách quy mô và có hệ thống. Năm
1103, vua Lý Nhân Tông ban hành đạo luật về đê điều lần đầu tiên ở nước ta.
Hoàn thành việc đắp đê sông Hồng ông cha ta đã làm được công trình thuỷ lợi vĩ đại, biến những
khu vực đầm lầy rộng lớn ở châu thổ sông Hồng thành ruộng cấy lúa. Để hình dung được quang
cảnh đầm lầy thời đó như thế nào, ta cứ suy ra từ quang cảnh đầm Dạ Trạch (Khoái Châu –
Hưng Yên) mà Phan Huy Chú đã ghi chép trong sách sử “Lịch triều hiến chương loại chí” như
sau: “Đầm ấy vòng quanh không biết mấy dặm, cỏ cây rậm rạp, trong có nền nhà có thể ở được,
nhưng 4 mặt đều là bùn lầy, người ngựa không đi được, chỉ dùng thuyền độc mộc đẩy sào lướt
trên nước và cỏ. Nếu lỡ ngã xuống nước thì sẽ bị rắn rết cắn chêt luôn”. Trải qua hàng bao thế
kỷ, hàng bao nhiêu đời, ông cha ta đã đắp được 1665km đê sông Hồng và các nhánh của nó. Tuy
nhiên qua sử sách ghi lại, đê sông Hồng cũng đã nhiều phen bị vỡ. Ví dụ như năm 1995, đê bị vỡ
đến 48 nơi, làm lụt ¼ châu thổ. Riêng tỉnh Hà Đông (cũ) bị 40 triệu km3 nước tràn vào. Làng
mạc, ruộng vườn vị ngập tới hàng tháng, sâu tới 4m. Khắp nơi đều trắng xóa nước ngập, một
biển nước mênh mông, chỉ đôi nơi có những ngọn tre nhô lên, đung đưa trước gió. Lụt Sông
Hồng thật khủng khiếp. Vì vậy từ bao đời nay, nhân dân ta hàng năm phải lo tu bổ đê, canh giữ
đê vào mùa lũ để đề phòng mọi sự bất trắc có thể xảy ra.
Cầu Chương Dương

<Xem thông tin trên ảnh>
Cầu Long Biên
<Xem thông tin trên ảnh>
Làng gốm Bát Tràng
Bát Tràng là một làng nằm cách thủ đô Hà Nội trên 10km về phía Đông Nam, bên tả ngạn sông
Hồng, trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Nghề gốm xuất hiện ở
Bát Tràng vào thế kỷ XV. Thợ thủ công ở đây đã sản xuất hầu hết các loại gốm quý và độc đáo
của Việt Nam: gốm men ngọc, gốm men rạn, gốm hoa lam… Các bộ sưu tập gốm sứ Bát Tràng
cho thấy chúng đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật đồ gốm sứ ở Việt Nam.
Hiện nay, Bát Tràng có khoảng 1500 hộ thì có đến 90% số hộ làm nghề gốm. Nếu trước đây mỗi
hộ làm nghề gốm phải tự lo mọi công đoạn sản xuất từ đầu đến cuối, thì bây giờ ở làng Bát
Tràng đã hình thành hệ thống tổ chức sản xuất – kinh doanh chuyên môn hóa. Có hộ chuyên
nghiền trộn đất, có hộ chuyên làm mẫu theo đơn đặt hàng, có hộ chuyên vận chuyển kinh
doanh… Mỗi năm Bát Tràng xuất khẩu tới 50 triệu sản phẩm các loại. Sản phẩm gốm sứ Bát
Tràng nổi tiếng ở trong nước, còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới.
Làng rắn Lệ Mật
Làng rắn Lệ Mật thuộc thị trấn Gia Lâm, theo quốc lộ 5 chừng 1km rồi rẽ trái, đi qua một cánh
đồng lúa là đến làng rắn Lệ Mật. Nơi đây là một làng quê có nghề truyền thống nuôi rắn, bắt rắn
cách đây 900 năm.
Vào thăm các gia đình nuôi rắn có hạng như gia đình ông Nguyễn Đặng Pháo và ông Trần Như
Bản. Ông Pháo đã có hơn nửa thế kỷ trong nghề. 4 con trai ông được huấn luyện thuần thục các
khâu nuôi, bắt và chế biến các sản phẩm rắn. Công dụng của rắn có nhiều: xương rắn để nấu cao,
mỡ rắn bôi vết thương, mật rắn làm thuốc giải cảm, tiêu đờm, nọc rắn chữa động kinh, ung thư,
hen, phế quản, rong huyết, v.v… Rượu rắn là thuốc bổ gân cốt, chữa thấp khớp… Du khách có
thể thưởng thức một chút rượu rắn và các món ăn chế biến từ rắn ngay tại làng quê này.