BÌNH ĐỊNH



Có diện tích 6076km2, dân số 1.461.046 người (1/4/1999), trong đó người Việt chiếm trên 90%,
phía Bắc giáp Quảng Ngãi, phía Nam giáp Phú Yên, phía Tây giáp Gia Lai, Đông giáp biển Đông.
Tỉnh Bình Định có đường bờ biển dài 134km. Địa hình chia làm 3 vùng rõ rệt: đồi núi, đồng bằng,
cồn cát và đầm hồ ven biển. Bình Định có thành phố là Quy Nhơn và các huyện: Vân Canh, Tuy
Phước, An Nhơn, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Phù Cát, Phú Mỹ, Hoài Nhơn, Hoài Ân và An Lão. Nhiệt độ
trong năm dao động từ 25oC tới 30oC. Lượng mưa trung bình từ 1700mm/năm. Có một trường ĐH,
325 trường trung học và tiểu học, 5 bệnh viện cấp tỉnh, 11 bệnh viện cấp huyện và nhiều bệnh xá.
Sản lượng hải sản hàng năm đạt trên 50.000 tấn, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao như cá
thu, cá ngừ, cá trích, cá chuồn… 35 loài tôm, 20 loài mực, đặc biệt có yến sào, tôm hùm, cua Huỳnh
Đế. Về nuôi trồng thủy sản, tổng diện tích nước lợ tự nhiên Bình Định khoảng 7600ha, có địa hình
và môi sinh thích hợp với nhiều loại thủy sinh vật như tôm sú, tôm bạc, tôm đất. Về nông nghiệp,
trồng trọt là ngành sản xuất chính, kế đó là chăn nuôi. Cây lúa và cây sắn là hai loại lương thực
hàng đầu của tỉnh. Bình Định còn có khả năng trồng các loại cây công nghiệp như dừa, dâu tằm,
mía, tiêu, lạc, chuối, điều. Diện tích trồng dừa và cây công nghiệp toàn tỉnh hiện nay là 25.000ha.
Chăn nuôi trâu, bò cho sản lượng 21.000 tấn thịt/năm. Còn có nhà máy chế biến đông lạnh công
suất 3000 tấn/năm. Về khoáng sản: cát có hàm lượng titan lớn, từ 80g đến 500g/m3 cát, đá granite
có rất nhiều với màu sắc đẹp, không phai, tính trang trí cao. Đá màu hồng nhạt và đỏ sẫm có ở các
huyện An Nhơn, Vân Canh, Tuy Phước, Quy Nhơn. Đá màu đen tuyền có ở huyện Tuy Phước, Vân
Canh. Năm 1992, kim ngạch xuất khẩu của ngành khai thác đá đạt 1,215 triệu USD.
Quy Nhơn có cảng Quy Nhơn rất lớn. Cảng nằm ở vùng điểm các nguồn tàu của Việt Nam đến các
nước và gần đường hàng hải Quốc tế. Cảng Quy Nhơn nằm kín đáo trong đầm Thị Nại có diện tích
30km2, độ sâu trung bình 5-6m, luồng chạy tàu 10-11m, đảm bảo cho tàu 15.000 tấn ra vào thường
xuyên. Bờ biển từ cảng Thị Nại đến cảng Đống Đa dài 2,5km. Có thể nói mạng lưới giao thông kết
hợp với cảng tại Quy Nhơn là một hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ. Đường 19
nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, Lào, Campuachia còn khá tốt. Ngoài ra có tuyến đường sắt đến
tận cảng và hai sân bay Quy Nhơn, Phù Cát tạo nên mạng lưới giao thông liên hoàn mà ít cảng nào
trong nước có được. QL 19 lên Kontum là đường lên Bảo tàng Quang Trung, vùng thượng đạo của
Tây Sơn, giữa đèo Mang Yang và đèo An Khê. Bình Định vốn là đất cũ của Chiêm Thành, trước kia
tên Việt không rõ. Theo sách Đồ Bàn Ký của Hoàng giáp Nguyễn Văn Hiển triều Minh Mạng, thì sau
khi bị vua Lê Đại Hành đánh lấy mất thành Địa Rí (982) vua Chiêm Thành là Xá Lợi Đà Ngô Nhật
Hoan chạy vào đây đóng đô mới đặt tên là Đồ Bàn. Năm Canh Thìn (1470), vua Chiêm Thành là Trà
Toàn đem quân ra đánh phá Hoá Châu. Vua Lê Thánh Tông phải cầm quân đi đánh dẹp. Trà Toàn
đại bại phải rút quân về giữ Đồ Bàn, vuaLê Thánh Tông thừa thắng đuổi đánh, quân Chiêm chống
không nổi, Trà Toàn bị bắt và đất Đồ Bàn bị quân ta chiếm, sáp nhập vào đạo Quảng Nam đổi thành
phũ Hoài Nhơn. Đến thời Trịnh – Nguyễn phân tranh năm Ất Tỵ (1605) Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
đổi tên Hoài Nhơn thành Quy Nhơn. Bình Định là quê hương của Tây Sơn Nguyễn Huệ. Tây Sơn có
mối quan hệ chặt chẽ với người Ba Na vì họ có quan hệ buôn bán qua lại. Cách Quy Nhơn 27km về
hướng Đông Bắc, tháp Cánh Tiên là kinh đô Chămpa từ năm 1000. Năm 1799, Nguyễn Ánh đánh
dẹp nhà Tây Sơn và đổi tên thành là thành Bình Định. Đến năm 1814 thành bị nhân dân phá hủy.

Thành phố Quy Nhơn
Quy Nhơn cách TP.HCM 660km và thủ đô Hà Nội 1070km. Quy Nhơn có diện tích tự nhiên
221,12km2, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 26,7oC, lượng mưa
trung bình năm 1700mm. Dân số hiện nay khoảng 300.000 người. Ngày 20/10/1898, vua Thành
Thái ra dụ thành lập thị xã Quy Nhơn, ngày 4/7/1998, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định công
nhận Quy Nhơn là thành phố cấp 2. Trải qua biết bao thăng trầm, ngày nay Tp. Quy Nhơn trở thành
trung tâm kinh tế của khu vực Nam Trung Bộ.
Quy Nhơn hiện nay có 20 đơn vị hành chính, gồm 16 phường và 4 xã bán đảo, tiềm năng kinh tế đa
dạng, có nhiều danh lam thắng cảnh, sơn thủy hữu tình: vịnh Quy Nhơn với Cù Lao Xanh, bãi biển
Quy Hòa, Gành Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu, núi Nhạn, đầm Thị Nại. Quy Nhơn gần thành Đồ Bàn,
kinh đô Chiêm Thành với nhiều ngọn tháp độc đáo, là kinh đô đầu tiên của nhà Nguyễn Tây Sơn với
các chùa chiền cổ kính và nhiều di tích văn hóa lịch sử đã được xếp hạng.
Nguyễn Trọng Trí (1912 – 1940)
Nhà thơ có bút danh là Hàn Mặc Tử, ngoài ra còn có bút hiệu: Phong Trần, Lệ Thanh, Minh Duệ
Thị. Về bút danh Hàn Mặc Tử nguyên trước là Hàn Mạc Tử – có nghĩa là “Bức rèm lạnh”. Người
bạn thơ là Quách Tấn dí dỏm bảo: “Đã có rèm thì thêm bóng nguyệt vào. Hỏi còn cảnh nào nên thơ
bằng!”. Ông hiểu ra thêm dấu ngửa trên chữ A, Hàn Mạc hóa ra “Hàn Mặc” và Hàn Mặc Tử có nghĩa
là “Chàng Bút Mực”. Còn bút hiệu Lệ Thanh là ghép chữ đầu của nơi sinh là Lệ Mỹ và chữ đầu của
chính quán Thanh Tân.
Ông sinh ngày 22/9/1912 tại Lệ Mỹ (Đồng Hới – Quảng Bình), con ông Ngyuễn Văn Toản và bà
Nguyễn Thị Duy. Tổ tiên vốn họ Phạm và quê quán ở Thanh Hoá. Ông cố tên Phạm Chương liên
can về quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con là Phạm Bồi trốn vào Thừa Thiên, đổi ra họ
Nguyễn, theo họ Mẹ. Thân sinh ông (Nguyễn Văn Toản) là con trường của Phạm Bồi, tức Nguyễn
Bồi.
Từ năm 1930-1931, ông làm thơ và bắt đầu có tiếng, nhất là có mấy bài Đường luật như Thức
Khuya được Phan Bội Châu khen và họa lại:
Non sông bốn mặt ngủ mơ màng
Thức chi mình ta dạ chẳng an
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
Khóc dùm thân thế hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh để dạo đàn
Chổi đập nôm na vài điệu cũ
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn
(Hàn Mặc Tử)
Chợ lợi trừơng danh tí chẳng màng
Sao ăn không ngon ngủ không an?
Trăm năm ngán đó tuồng dâu bể
Muôn họ nhờ ai bạn chiếu chăn
Cửa sấm gớm ghê người đánh trống
Tai trâu mỏi mệt khách đưa đàn
Lòng sen đằng đẵng tơ sen vướng
Mưa gió bao phen gộc chẳng tàn.
(Phan Bội Châu)

Ông làm việc ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn (1932), thỉnh thoảng gửi thơ đăng ở tuần báo Phụ Nữ Tân
Văn trong Nam,ký tắt bút hiệu P.T.Quy Nhơn.
Đầu năm 1935, ông xin thôi việc rồi vào Sài Gòn, giữ trang văn chương ở các báo Sài Gòn, Công
Luận, Tân Thời, Trong Khuê Phòng.
Được một năm ông trở về Quy Nhơn, rồi mắc bệnh phong, điều trị tại nhà khá lâu không hết, ông bị
cưỡng bức vào nhà thương Quy Hòa. Chẳng bao lâu ông mất vào ngày 11/11/1940, hưởng dương
28 tuổi.
Ông còn để lại cho đời mấy tập thơ như: Lệ Thanh Thi Tập, Đau Thương, Gái Quê (1936), Thơ Hàn
Mặc Tử (1957).
Người bạn thơ Quách Tấn mộng thấy Hàn Mặc Tử:
“Ôi Lệ Thanh! Ôi Lệ Thanh!
Một giấc trưa nay lại gặp mình
Nhan sắc châu sa màu phú quý
Tài ba bớt trổ nét tinh anh
Rượu tân thu cũ say sưa chuyện
Hương lạ trời cao bát ngát tình
Tôi khóc tôi cười tan cả mộng
Nhớ thương đưa lạc gió qua mành”
Mộ Hàn Mặc Tử trên một ngọn đồi nhỏ, con dốc để đến thăm được mộ được đặt tên là dốc Mộng
Cầm, người yêu của nhà thơ. Trước đây người ta cho rằng ông mất vì bệnh phong, nhưng thật ra
ông chết vì bệnh kiết lị, suy nhược vào năm 1940.
Khu du lịch Đài Xuân – Trại phong Quy Hòa
Năm 1929, ông Harler, một người làm công tác từ thiện đã xây trại phong. Hiện nay trong trại có
khoảng 250 người. Mặc dù bớt bệnh hoặc được trị khỏi hẳn vẫn không muốn ra ngoài sinh sống.
Trong khu vực này có khoảng 300 ngôi nhà, theo kế hoạch đến năm 2000 Việt Nam sẽ giải quyết
dứt điểm bệnh phong. Chính quyền địa phương đang có kế hoạch biến nơi đây thành khu du lịch.
Trại nằm sát bãi biển cát trắng đẹp với khu cắm trại và tượng danh nhân thế giới. Bên phải là nhà
tiếp khách, văn phòng làm việc. Đi sâu vào trong là khu nhà ở của những gia đình có người mắc
bệnh phong. Đây là nơi Hàn Mặc Tử đã ở để chữa bệnh.
Chàng nghệ sĩ phiêu lãng với thơ Hàn Mặc Tử
Hôm nay khi đến Quy Nhơn, lên viếng mộ Hàn Mặc Tử tại Ghềnh Ráng ta sẽ gặp một căn lều nhỏ
trong đó có một chàng nghệ sĩ sống và phiêu du với thơ Hàn. Là một người yêu thơ Hàn, yêu đến
say đắm, anh đã tự nguyện dựng lều sống cạnh mộ Hàn để hàng ngày được trò chuyện với người
tri kỷ qua thơ. Hàng ngày với cây bút lửa trên tay, anh cặm cụi một cách cần mẫn vẽ, chép thơ Hàn
trên gỗ thông thơm làm quà cho du khách yêu thơ Hàn. Mỗi một tác phẩm hội họa của Kha là một
bài thơ của Hàn được thể hiện, từng nét vẽ là sự thể hiện mỗi cung bậc của thơ. Thơ của Hàn và
họa của Kha hòa quyện với nhau tạo nên hồn cho từng tác phẩm.
Dzũ Kha sinh năm 1960, tên thật là Trương Vũ Kha, người quê Phù Cát – Bình Định. Sau khi tốt
nghiệp Mỹ thuật tại TP. Hồ Chí Minh, vì nặng lòng với quê hương, ông về Quy Nhơn mở phòng
tranh nghệ thuật tại Quy Hòa, nơi nhà thơ Hàn Mặc Tử sống và chữa trị bệnh phong, rồi mất năm
1940. Tranh của Kha chủ yếu là tranh thủy mặc, nhìn tranh ta có thể thấy chất lãng du của người
nghệ sĩ, thi sĩ trong đó. Kha nói anh thích thơ Hàn và cũng thích làm thơ. Những bài thơ Kha viết là
một lời tâm sự, buồn có, vui có, tất cả những vần thơ đó ít nhiều có ảnh hưởng từ sự cảm nhận của
thơ Hàn. Hàng ngày Kha vẽ tranh, viết thơ và làm những công việc mình thích, mọi lo toan thường
nhật ở nhà đã có vợ lo. Phải công nhận trời cũng công bằng khi lấy đi của Kha cũng nhiều nhưng bù
lại trời lại cho anh một người vợ tuyệt vời. Chị thương anh, yêu anh và theo anh đến đỉnh Gềnh
Ráng này dựng lều bên cạnh mộ Hàn Mặc Tử để cho anh được thỏa ước nguyện của mình với bạn
tâm giao. Chị thay anh lo công việc gia đình và vui cùng công việc anh làm. Anh yêu thơ Hàn và tình
yêu từ anh đã truyền sang chị. Chị đọc thơ Hàn, thuộc thơ Hàn và bình thơ Hàn rất hay khi có khách
yêu thơ đến nhà. Khi Kha vắng nhà chị thay anh tiếp khách thập phương đến viếng mộ Hàn và như
một hướng dẫn viên chuyên nghiệp, chị giới thiệu tỉ mỉ cho khách về thân thế, sự nghiệp và cuộc
đời đầy bất hạnh của Hàn Mặc Tử. Chị giới thiệu thơ của Hàn được khắc trên gỗ thông qua ngọn
bút lửa tài tình của Dzũ Kha với niềm xúc động xen lẫn tự hào.
Dzũ Kha tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với thơ Hàn và đỉnh Gềnh Ráng thân thương này. Chất
lãng tử trong anh như một dòng sông chảy không có điểm dừng và tấm lòng của anh cũng vậy. Anh
thích được sống trong cảnh thiên nhiên lộng gió, được vẽ và viết thơ Hàn trên các tác phẩm của
mình, giữa cho thơ Hàn cháy mãi. Tuy thời gian ngồi với nhau không lâu nhưng anh đã để lại trong
tôi nhiều ấn tượng sâu sắc khó quên. Từ mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ, đôi mắt sâu thẳm buồn mênh
mang đến giọng nói trầm ấm của người con đất biển. Tôi quý anh không bởi bạc tiền mà cảm phục
anh ở một tấm lòng giữa người với người và giữa ngừơi với đời. Trong cảnh bon chen cơm áo gạo
tiền của cuộc sống đời thường, anh không màng tới những danh vọng cao xa mà tự nguyện làm
một nghệ sĩ nghèo để ngày ngày cặm cụi bên giá vẽ, để được thăng hoa với thơ Hàn, tiếp và giữ
cho thơ Hàn ấm mãi. Kha nói anh yêu thơ Hàn vì Hàn thấu hiểu về quê hương ông, vì vậy mà Dzũ
Kha gắn bó với thơ Hàn từ mấy chục năm nay và qua anh bao nhiêu du khách khi đến với Hàn Mặc
Tử lại càng quý trọng và yêu thơ ông hơn. Qua Kha chúng ta được biết thêm nhiều về cuộc đời và
nhiều điều thầm kín mà thi sĩ họ Hàn chưa kịp giải bày. Anh đã cất công đi tìm và đến thăm những
người phụ nữ là tri ân của thi sĩ họ Hàn thủa nào và những ngưởi còn sống rất trân trọng tình cảm
của anh và coi anh như người thân trong gia đình.
Sống trên đỉnh Gềnh Ráng như một cư sĩ nhưng tâm hồn Kha rất trẻ, anh có thể ngồi cả buổi đàm
đạo thơ Hàn với một khách thập phương từ xa đến như một người bạn ở xa về thăm quê. Tuy cuộc
sống còn nhiều khó khăn nhưng Kha vẫn vui và sống với bạn yêu thơ hết mình. Anh thường nói:
“Tôi dựng lều cỏ, đọc thơ Hàn và lưu bút lửa thơ Hàn để người đời luôn nhớ đến Hàn, vì tôi yêu
Hàn có thế thôi…”
Ngã ba Bà Di
Ở đây, nếu rẽ trái đường 19 lên Kontum, cũng là đường lên Bảo tàng Quang Trung. Con đường này
sẽ đưa du khách lên đến vùng đất Tây Nguyên huyền bí với các nhóm người dân tộc thiểu số như:
Giarai, BaNa, M’Nông, Ê Đê… các thác nước hùng vĩ như Yali, Draysap, Krongkmar… các buôn
làng nằm sâu giữa rừng già đại ngàn. Đặc sản trên QL 19 này là măng khô và rượu Bàu Đá. Từ đây
theo QL 1A một đoạn nữa, phía bên phải, trên một ngọn đồi có 3 tháp Chăm nhỏ, đó là tháp Bánh Ít.
Sau khi qua cầu Bà Di thị trấn Bình Định, thị trấn Phú Mỹ, thị trấn Bồng Sơn huyện Hoài Nhơn, thị
trấn Tam Quan nổi tiếng về dừa. Tam Quan là thị trấn cuối cùng của Bình Định, là ranh giới giữa
Bình Định và Quảng Ngãi.
Nhạc võ Tây Sơn
Nhạc võ Tây Sơn gắn bó với lò võ nổi tiếng của người Việt ở Bình Định. Tương truyền loại nhạc này
do 3 anh em người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đặt ra cho quân khởi nghĩa luyện võ. Với một bộ
trống 17 chiếc, người tập võ sẽ dùng hai tay để đánh 12 chiếc, còn lại 5 chiếc đánh bằng đầu, hai
gót chân và hai khuỷu tay. Người tập võ đánh được 17 trống được xem là “Võ thuật như thần”
Sau khi 3 Ngài mất, mỗi dịp tế lễ để tưởng niệm những vị anh hùng đã đánh bật quân xâm lược ra
khỏi bở cõi, nhân dân ở quê các Ngài vẫn đánh trống võ. Nhạc võ Tây Sơn gồm 4 bài: Xuất Quân,
Hành Quân, Hãm Quân và Khải Hoàn. Nó đã trở thành một loại nhạc lễ trong di sản nghệ thuật của
người Việt Nam.
Tháp Bánh Ít
Thuộc thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, Bình Định. Nằm cạnh đường từ thành phố
Quy Nhơn đi QL 1A, cách chỗ đường giao nhau khoảng 500m về hướng Đông. Tương truyền có bà
Thị Thiện làm bánh ít và bán ở chân núi nên tháp mới có tên như thế. Tháp có niên đại vào cuối thế
kỷ XI đầu thế kỷ XII. Hiện nay chỉ còn lại 4 kiến trúc, nhưng mỗi kiến trúc trong cụm tháp lại có một
loại hình kiến trúc riêng biệt, là một sắc thái nghệ thuật khác nhau. Ngôi tháp chính uy nghi, ngôi
tháp Nam mái cong hình yên ngựa thơ mộng; tháp Đông Nam với những hàng trang trí dưới dạng
quả bầu lọ trên các tầng gây cho người xem một cảm giác rộn ràng, cởi mở; toà tháp cổng đĩnh đạc
trầm tư. Đến thăm tháp Bánh Ít, du khách có thể thưởng ngoạn những vẻ đẹp đa dạng và phong
phú, có thể thoả mãn nhiều cảm xúc khác nhau.
Ngôi tháp chính có vẻ đường bệ và hoành tráng, các cột ốp, các đường gờ nhô ra dọc các mặt
tường, vòm của các cửa giả hình mũi lao nhọn đồ sộ nhưng cũng không thiếu vẻ thanh tú về đường
nét. Những nét vạch lõm nhẹ nhàng chạy dài trên các mặt tường như làm dịu đi tính trang trọng và
cứng rắn của các mặt vòm của khối kiến trúc, những hình hoa lá trên các diềm mái, những cảnh ca
múa trên các mặt vòm, các cửa giả làm cho cả khối kiến trúc gạch như vui lên, như đang thật sự
tiếp xúc với ngưởi xem.
Sang ngôi tháp mái cong hình yên ngựa ở phía Nam tháp chính, người xem như thấy một thiên
cung huyền ảo. Những hình người, hình thú, hình chim… tất cả đều bằng gạch ở dưới chân tháp
đanh ưỡn người, khuỳnh chân, dùng hai tay nâng bổng cả tòa tháp lên. Mái tháp cong hình yên
ngựa như xòe cánh bay. Trên mặt tường của kiến trúc, người nghệ sĩ Chămpa xưa đã tô điểm bằng
những băng, những ô hình hoa lá, tất cả đã tạo cho ngôi tháp mái cong này vẻ diễm lệ, thơ mộng
hiếm thấy.
Xuống phía dưới, người xem cũng gặp hai kiến trúc với hai dáng vẻ khác nhau, tháp cổng có hình
dáng và kiến trúc như tháp chính, nhưng nhỏ hơn, ít các chi tiết trang trí hơn, cho nên ấn tượng về
ngôi tháp chính là lạnh lùng, nghiêm nghị. Trong khi đó, cũng với lối kiến trúc và kích thước tương
tự, ngôi tháp Đông Nam lại đem cho người xem cảm giác vui và ấm áp hơn so với tháp cổng.
Những hình ảnh bầu lọ trên các tầng với các khối cong nhịp nhàng đã che khuất và làm mềm đi
nhứng hình khối cứng cỏi, khô khan, và nhờ vậy mà cả tòa kiến trúc như dịu hơn.
Mặc dù mỗi ngôi tháp trong quần thể tháp Bánh Ít có một nét riêng, nhưng nhìn chung, tất cả đều có
một nét chung và cũng là nét đặc trưng cho cả quân thể, đó là sự thắng thế của tính hoành tráng và
ngôn ngữ của các khối lớn. Ở quần thể Tháp Bánh Ít, những đường nét thanh tú, những dãi hoa
văn trang trí vốn là tấm áo khoác kiều diễm cho những tháp Chăm thế kỷ X (Phong cách Mỹ Sơn
A1) gần như đã mất đi, thay vào đó là một phong cách mời khỏe khoắn, hoành tráng – phong cách
Bình Định ra đời. Tức là ở các kiến trúc giao thời giữa phong cách kiến trúc Mỹ Sơn A1 kiều diễm
và các tháp khỏe chắc của phong cách Bình Định, Tháp Bánh Ít vừa có nét trang nhã, thanh thoát
lại vừa có tính hoành tráng oai nghiêm.
Thành Hoàng Đế (Thành Chà Bàn)
Thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, cách thành phố Quy Nhơn 27km về hướng Tây Bắc.
Thành được xây dựng vào cuối thế kỷ X, dưới triều đại vua Yangpuku Vijaya. Đây là kinh đô cuối
cùng của vương quốc Chămpa, các vua Chăm đã đóng ở đây từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV. Di tích

hiện nay không cỏn nguyên vẹn, chỉ còn sót lại các bức tường thành. Tường thành xây dựng bằng
đá ong, có hào, đường lát đá hoa cương.
Trong thành có các di tích cũ của người Chăm như: giếng vuông, tượng nghé, voi, bên cửa hậu có
gò Thập tháp, trên gò vốn có 10 ngôi tháp. Đặc biệt có ngôi tháp Cánh Tiên cao gần 20 m, góc tháp
có tượng rắn làm bằng đá trắng, hai voi đá và nhiều tượng quái vật. Chùa Thập tháp Di Đà nằm ở
phía Bắc thành, chùa Tháp Nhạn nằm ở Nam thành, trong đó còn giữ nhiều di tích, hiện vật liên
quan đến văn hóa Chămpa và Tây Sơn.
Đến năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương Hoàng đế đóng đô ở đây gọi là Hoàng Đế
thành, mở rộng về hướng Đông xây dựng nhiều công trình lớn. Năm 1779 thành bị quân nhà
Nguyễn chiếm gọi là thành Bình Định. Năm 1814, nhà Nguyễn phá bỏ thành cũ, xây thành mới cách
thành cũ khoảng 5 km về hướng Nam.
Tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái sự sinh tồn nảy nở của tự nhiên và
con người (phồn = nhiều, thực = nảy nở).
Tín ngưỡng phồn thực hình thành từ xa xưa trong lịch sử, trên cơ sở tư duy trực quan, cảm tính của
cư dân nông nghiệp trước sự sinh sôi để duy trì sự sống của con người (là kết quả của hành vi giao
phối Đực – Cái, Nam – Nữ), trứơc sự sinh sôi để duy trì sự sống của cây trồng (cây lúa,…), vật
nuôi. Họ nhìn thấy ở thực tiễn đó một sức mạnh siêu nhiên và sùng bái các hiện vật – hiện thực đó
như thần thánh. Như vậy, bản chất của tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng cầu sinh nở và no đủ.
Ở nước ta, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử, dưới hai dạng biểu hiện: Thờ
cơ quan sinh dục nam nữ và thờ bản thân hành vi giao phối.
1. Thờ cơ quan sinh dục nam nữ, được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí =
công cụ) đây là hình thức đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, nó phổ biến ở nền văn hóa nông
nghiệp trên thế giới.
Thuật ngữ của ngành dân tộc học trên thế giới gọi sinh thực là Linga (cơ quan sinh dục nam) và
Yoni (cơ quan sinh dục nữ).
Ở VN việc thờ sinh thực khí được gọi là thờ cúng Nõ Nường, những tên chỉ sinh thực khí là Nõ
(nêm) tượng trưng cho bộ phận sinh dục nam, Nường (nang, mo nang) tượng trưng cho bộ phận
sinh dục nữ. Ngoài ra còn có các biến thể của việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ như: thờ cột đá tự
nhiên, thờ các kẽ đá nứt tự nhiên, tạc các bộ phận của các công trình kiến trúc có hình dáng như bộ
phận sinh dục nam nữ (ví dụ như cột đá chùa Giạm…).
2. Thờ hành vi giao phối, một dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, đặc biệt phổ biến ở Đông Nam
Á.
Ở VN có những biểu hiện của tín ngưỡng này như: Tượng 4 đôi nam nữ đang giao hợp được đúc
bằng đồng, gắn trên nóc thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500 năm TCN). Ở thân thạp Đào
Thịnh khắc chìm hỉnh những con thuyền, chiếc sau nối đuôi chiếc trước, khiến cho hai con cá sấu -
rồng được gắn ở mũi và lái của hai chiếc thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Trên nắp
trống đồng Hoàng Hạ (Hà Sơn Bình) có khắc những cặp chim ngồi trên lưng nhau trong tư thế đạp
mái; tượng cóc giao phối, điệu múa “tùng-dí” trong lễ hội làng các vùng Trung Châu, nay thuộc tỉnh
Phú Thọ, với thanh niên nam nữ từng đôi múa cầm trong tay những vật biểu trưng cho sinh thực khí
nam và nữ, cứ mỗi khi nghe đánh trống (tùng), họ lại đưa hai vật đó chạm vào nhau (dí); tượng nam
nữ với bộ phận sinh dục quá cỡ thường xuyên có mặt ở các nhà mồ Tây Nguyên…
Tây Sơn
Tây Sơn là địa danh chỉ cả vùng núi phía Tây đồng bằng của phủ Quy Nhơn xưa. Anh em Tây Sơn
là dòng dõi của Hồ Quý Ly, nguyên quán ở Hưng Yên, Nghệ An. Ông bà họ bị quân Nguyễn bắt vào
Nam nhân lúc Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đem quân ra lấy 7 huyện phía Nam sông Cả,
trong cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh (1653 – 1657). Họ được đưa về làng Tây Sơn, huyện Phù Ly,
phủ Quy Nhơn.
Nguyễn Huệ là con của ông Hồ Phi Phúc! Nhưng tại sao lại mang họ Nguyễn? Người dân Nghĩa
Bình truyền rằng: Có một thuở, dân ở đây sinh con lấy họ Mẹ là phổ biến để cắt nghĩa về việc đổi
thành họ Nguyễn của anh em Tây Sơn, cùng họ với thân mẫu Nguyễn Thị Đồng. Nhưng cũng
nguồn tài liệu sưu tầm ở địa phương và có lần được biên chép cho rằng: Thuở nhỏ anh em Tây
Sơn có học với một thầy giáo xứ Huế, giáo Hiến, do bị Trương Thúc Loan trù dập, giáo Hiến trốn
vào phủ Quy Nhơn mở trường dạy học ở đất An Thái. Giáo Hiến mang hoài bão, ý chí của mình để
truyền lại cho các môn sinh. Giáo Hiến đã khám phá ra tài năng khác thường của anh em nhà Tây
Sơn nên hết lòng đầu tư cho một sự nghiệp lớn về sau. Hoài bão còn được cổ vũ thêm bằng sức
mạnh của thần linh. Giáo Hiến cho là có sấm truyền “Tây Sơn khởi nghĩa, Bắc thu công”- “Phụ
Nguyên phục thống”. Rồi nói với anh em Nguyễn Huệ: “Các con là người của đất Tây Sơn, khởi
nghĩa sẽ lập nên sự nghiệp ở đất Bắc, và hết lòng giúp chúa Nguyễn để phục hồi nền thống
nhất…Các con nên đổi thành họ Nguyễn để có danh nghĩa lập công”. Anh em Tây Sơn có 3 anh em
mà người đời thường hay gọi là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ (Hồ Thơm), Nguyễn
Lữ.
Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế vào ngày 22/12/1788, trong dịp lễ xuất binh đi đánh quân xâm lược
Mãn Thanh. Tháng 10 – 11/1788, Lê Chiêu Thống cử sứ bộ sang cầu viện nhà Thanh, phù hợp với
ý đồ xâm lược của triều đình Trung Quốc. Quân Thanh dưới quyền của Tổng Đốc Lưỡng Quảng là
Tôn Sĩ Nghị và Đề Đốc Hứa Thế Thanh tràn qua Lạng Sơn ngày 28/11/1788. Ngày 21/12, tin về đến
Phú Xuân. Hôm sau Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế đặt thủ phủ là Phượng Hoàng
Trung Đô tại Nghệ An.
Rừng Dừa Tam Quan
Là nơi có diện tích dừa lớn thứ hai (6500ha) tại Việt Nam – sau tỉnh Bến Tre.
Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.
Cây dừa là một loại cây trồng đẹp. Thân hình trụ, vỏ màu xám hoặc xám nâu, có khi mọc cao đến
30m. Lá dừa có dạng lông chim dài 3-6m, tạo thành một tán lớn trên ngọn cây. Dừa thường ra hoa
và có quả quanh năm. Hoa dừa thuộc loại cụm hoa bông, tạo thành từng buồng mọc ở gốc lá gần
phía đỉnh cây, hoa đực và hoa cái cùng nằm trên một buồng, vì thế có khi gió nhẹ dừa dễ thụ phấn
và cho năng suất cao. Quả dừa thuộc loại quả hạch, nặng trung bình 2kg, nhưng nặng nhất có thể
đến 8kg. Mỗi buồng hoa có thể cho 10 đến 30 quả. Quả dừa gồm hai bộ phận: Vỏ và ruột, vỏ quả
dày và chia ra: vỏ ngoài là một màng cứng và bóng, vỏ giữa là lớp sơ thô và xốp, vỏ trong rất cứng
gọi là gáo dừa hay sọ dừa. Cùi dừa chính là hạt nằm bên trong lớp vỏ cứng gồm có phôi và nội nhũ.
Quả dừa lúc còn non, ruột chứa đầy nội nhũ gọi là sửa dừa hay nước dừa. Nước dừa trong có vị
ngọt, mát, dùng uống tươi rất bổ và có tác dụng hồi sức nhanh. Quả càng già thì nội nhũ càng đặc
lại tạo thành lớp cùi bao quanh khoang ruột. Khi quả đã già, nội nhũ tạo thành một nhân cứng và chỉ
còn một ít sửa ở giữa. Cùi dừa lúc này rất rắn và chứa 66-68% dầu. Dừa là loại cây cho ra nhiều
sản phẩm hơn bất cứ loại cây trồng nào khác. Trước hết, quả dừa cho ra cơm dừa (cùi dừa), ngoài
chế biến dầu ăn, dầu cho công nghiệp mỹ phẩm, chất tẩy rửa.v.v… còn có thể nạo sấy làm nguyên
liệu cho công nghiệp bánh kẹo hay xuất khẩu. Nước dừa tươi tinh khiết, bổ dưỡng, có thể uống tươi
hoặc vô chai, đóng hộp. Nước dừa khô chế biến thành thạch dừa với con men Acetor bactor dùng

để ăn tráng miện hay ăn kiêng. Gáo dừa dùng làm than hoạt tính chữa bệnh nhiễm phóng xạ hoặc
nguyên tử, hay làm hàng mỹ nghệ. Sợi vỏ dừa làm nguyên liệu cho công nghiệp gỗ dán gia dụng,
làm nệm, thảm, phần bụi xơ dừa sau khi xử lý có thể dùng là phân bón. Thân dừa có thể làm nhà,
làm bàn ghế, hàng mỹ nghệ. Gân lá dùng đan lát làm hàng trang trí.
Ở nước ta, đến nay sản phẩm của cây dừa còn rất ít, hiệu quả kinh tế đem lại còn thấp. Ngoài dầu
dừa làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến tinh luyện dầu ăn, công nghiệp mỹ phẩm và
chất tẩy rửa, nước ta chỉ xuất được quả dừa tươi, quả dừa khô bóc vỏ, than gáo dừa, xơ dừa với số
lượng không đáng kể và giá cả lại bấp bê, gây thiệt thòi cho người trồng dừa, dẫn đến tình trạng
chặt phá vườn dừa để trồng những loại cây trồng khác trong những năm 1990-1995. Diện tích cây
dừa từ 300.000ha năm 1989 chỉ còn lại hơn 200.000ha (1995).
Viện Cây Có Dầu – Dầu Thực Vật đang thực hiện dự án nghiên cứu và sản xuất thử các sản phẩm
từ cây dừa, với sự hỗ trợ của Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) từ năm 1997 đến năm
2000.
Cùng với việc đa dạng hóa sản phẩm là việc chuẩn bị để cải tạo những vườn dừa hiện có và mở
rộng diện tích trồng dừa. Cây dừa rất thích hợp với vùng nước lợ ven biển, độ mặn khoảng 5–100
%o, là vùng có diện tích đất hiện nay hoang hóa rất nhiều. Viện Cây Có Dầu–Dầu Thực Vật đã
tuyển chọn được một số giống dừa năng suất cao như: PBI21 cho 80,6 trái/cây/năm, PBIII 73,7
trái/cây/năm. Trong khi đó các giống dừa của nước ta chỉ khoảng 35–40 trái/cây/năm. Viện Cây Có
Dầu–Dầu Thực Vật đã nghiên cứu các loại cây trồng, vật nuôi xen với dừa để tăng thu nhập cho
người trồng, cách phòng trừ dịch hại dừa, chế biến sản phẩm từ xơ , nước dừa.
Vấn đề còn lại là việc sớm thành lập Hiệp hội cây dừa để có thể chủ động phối hợp với các cơ quan
khuyến nông, Hội nông dân, đồng thời có các chính sách thích đáng vừa hỗ trợ nông dân trồng trọt
và chế biến theo quy mô gia đình, vừa khuyến khích đầu tư cho chế biến công nghiệp, nhờ đó sẽ
tạo ra những thuận lợi rất cơ bản để ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, nhanh chóng tạo
bước phát triển vượt bậc cho cây dừa và chế biến sản phẩm từ cây dừa ở nước ta.
Hát Bội
Hát bội xuất phát từ Bình Định, do Đào Duy Từ biến chế lối hát chèo ở ngoài Bắc và lối hát ở địa
phương bắt chước Chiêm Thành, mà tạo ra. Rồi mỗi đời mỗi phong phú thêm lên và đến đời Tự
Đức, nhờ Đào Tấn, Hát bội lên đến tuyệt đỉnh, nghệ thuật cũng như văn chương. Những kép hát nổi
danh đều được phẩm hàm. Nhiều bổn tuồng còn để lại đều được các văn nhân tài tử tán thưởng,
được hoan nghênh nhất là những bổn tuồng:
-“Ngũ Hổ Bình Tây” của cụ Tú Nguyễn Diêu ở Nhơn Ân.
-“Hộ Sanh” của cụ Đào Thụy Thạch, Đào Tấn Nhuận, Trầm Hương, Tân Dã, Cổ Thành, Hoàng
Cổn… của cụ Đào Tấn.
-“Khuê Các Anh Hùng”
-“Sơn Hậu”: đây là tuồng thầy cổ.
-“Hoàng Phi Hổ” là những bổn tuồng cổ, cụ Đào Tấn sửa lại đôi đoạn.
-“Phụng Nghi Đình” của cụ Tú Thám.
-“Lưu Bình Dương Lễ” của cụ Tú Võ Kiêm.
-“Mãi Tiêu” của cụ cử Huỳnh Bá Văn
-“Lý Phụng Đình” (một con vua Minh Mạng)
Đó là những bổn tuồng thường đem diễn. Còn nhiều bổn khác rất hay, nhưng ít thông dụng vì hoặc
khó hát hoặc không đủ điều kiện như:
-“Liễu Đố” của cụ Tú Nhơn Ân.
-“Vạn Bửu Trình Tường”, “Quần Tiên Hiến Thoái”, “Tứ Quốc Lai Vương” của cụ Đào Tấn.
Ngoài những tác phẩm của Bình Định thượng dẫn, bạn hát cũng thường dùng những bổn tuồng có
tiếng của tỉnh Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Thừa Thiên.
Ngày xưa không có trường hát. Những đám hát thường tổ chức nơi sân đình, miễu, đền, từ… hoặc
nơi các tư gia. Ban hát được rước đến, rạp đã được người đứng ra tổ chức cất sẵn, hát xong thì dở
rạp. Sân khấu rất đơn sơ, ngoài đôi câu liễn ở trước, tấm nghi môn ở trên, bên trong chỉ treo một
tấm màn vải (thường là vải thùng) che khuất hậu trường chứ không có phông, có cảnh chi cả.
Người đến xem không quan tâm đến đồ trần thiết, cũng không để ý đến đồ trang sức của bạn hát.
Bao nhiêu tai mắt đều dồn vào câu tuồng, giọng hát và điệu bộ của đào, kép. Bời vậy, chẳng những
hát đúng điệu, đúng cách, đúng nhịp mà thôi, đào kép phải ráng lột cho hết tinh thần của câu tuồng,
vở tuồng bằng giọng, hơi và điệu bộ. Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động của nhân vật biểu diễn đã đúng
rồi, cò phải làm thế nào trong khung cảnh “không có gì hết” khán giả thấy thể hiện ra trước mắt,
quang cảnh mô tả trong câu hát, trong vở tuồng, như thế là rất hay.
Sau này những màn, những phông, những áo xiêm rực rỡ làm cho các ca công bớt nhọc sức về
điệu bộ. Những cành núi sông, những cảnh lâu đài, hoa cỏ… đã vẽ sẵn rồi, việc diễn tả không còn
cần thiết lắm để làm nổi bật tình tứ trong văn chương.
Tuồng thì khác nhau, nhưng đám hát nào cũng phải bế mạc bằng một màn tôn vương nhiều khi
không liên quan chi đến vở tuồng cả. Màn “Tôn vương” bày ra để chúc tụng triều đình và cầu cho
làng xóm, hoặc gia chủ gặp được nhiều may mắn. Cuối cùng hát một câu hát vãn:
Ngũ sắc tường vân khai Bắc khuyết
Nhứt bôi thọ tửu chúc Nam san
Rày mừng hải yến hà thanh
Nhân dân an lạc thái bình âu ca.
Vận nước đang xoay chuyển
Quần thoa cũng vẫy vùng
Liều thân lo cứu chúa
Công trận quyết thay chồng
Khẳng khái khi lâm nạn
Kiên trinh lúc khốn cùng
Ngàn thu gương nữ kiệt
Gương sáng hãy soi chung.