BÀI THUYẾT MINH LĂNG TỰ ĐỨC TẠI HUẾ - Phần 1

PHẦN 1: CẢNH ĐẸP HỒ LƯU KHIÊM.


Kính thưa quý khách, tôi rất hân hạnh là người bạn đồng hành cùng quý khách trong chuyến
thăm lăng Tự Đức hôm nay. Sau khi qua cửa Vụ Khiêm Môn – quý khách tập trung ngay tại
sơ đồ tổng thể lăng. Xin quý khách vui lòng xếp theo hình vòng cung về phía tay trái tôi để
tiện quan sát sơ đồ công trình Lăng. Vâng thưa quý khách nhìn trên sơ đồ sau khi qua Vụ
Khiêm Môn, đi theo con đường lát gạch sẽ dẫn chúng ta vào khu vực khuôn viên của lăng, về
phía bên trái con đường là khu vực xung quanh hồ Lưu Khiêm, đi tiếp theo con đường sẽ gặp
khu mộ Lệ Thiên Anh Hoàng Hậu, vợ vua Tự Đức – cùng với lăng Vua Kiến Phúc vị vua
thứ 7 Triều Nguyễn là con nuôi vua Tự Đức. Qúy khách hãy quan sát trên sơ đồ, có những
điểm chín đen và chín đỏ, những điểm đen là những công trình đã bị phá hủy bởi thời gian và
chiến tranh và những điểm đỏ là những điểm còn được lưu giữ tới ngày nay. Theo dự kiến
buổi thăm quan sẽ diễn ra trong vòng 2 giờ đồng hồ, bây giờ là 9h có nghĩa là 11 giờ quý
khách có mặt tại điểm này để gặp lại hướng dẫn suốt tuyến của quý khách và tiếp tục hành
trình tới điểm tham quan khác trong chương trình.
Trước tiên đoàn chúng ta sẽ thăm khu vực quanh hồ Lưu Khiêm sau đó là khu vực lăng mộ
vua và cuối cùng là khu tẩm điện. Bây giờ mời quý khách đi theo tôi để bắt đầu chuyến thăm
quan, vâng thưa quý khách, nơi đoàn chúng ta đang đứng đây là khu vực hồ Lưu Khiêm, ngay
gần Dũ Khiêm Tạ và để tiện quan sát xin đoàn vui lòng đứng về phía tay trái tôi, mặt hướng
về phía hồ.
Như quý khách đã biết triều đại Nhà Nguyễn trải qua 143 năm, với 13 đời vua. Trong số 13
đời vua đó nhưng chỉ có 7 lăng tẩm được xây dựng bởi những lý do về lịch sử. Lăng Tự Đức
mà chúng ta thăm hôm nay là 1 trong số 7 lăng đó và đây là một lăng đẹp, đồng chất thơ, chất
mộng, nó phần nào thể hiện được tính cách và tâm hồn của ông vua thi sĩ – Tự Đức.
Mỗi một vị vua sau khi lên ngôi đều nghĩ đến việc tìm đất xây dựng ngôi nhà vĩnh cứu cho
mình, và vua Tự Đức cũng vậy sau khi lên ngôi ông cũng sớm nghỉ tới việc xây dựng lăng
tẩm cho mình bởi theo quan niệm triết học phương đông “Sinh Ký tử quy” sống gửi thác về
cuộc sống trần thế này chỉ là sự tạm bợ, cái chết về với thế giới bên kia mới là cõi vĩnh hằng.
Điều đáng nói ở đây trong số 7 lăng thì có tới 6 lăng còn dở dang hoặc chưa được xây dựng
khi các vua đã qua đời riêng vua Tự Đức sau khi hoàn thành lăng cho mình ông còn sống tới
16 năm nữa.
Trước khi tìm hiểu về kiến trúc lăng, tôi xin giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp
cũng như bối cảnh lịch sử giai đoạn ông trị vì.
Vua Tự Đức tên là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm – sinh năm 1829 là con trai thứ hai của vua
Thiệu Trị. Ngay từ thuở nhỏ Hồng Nhậm được mẹ dạy bảo nghiêm khắc từ cách đi đứng đối
ứng đều hợp với nghi thức cung đình, với tư chất đi đứng đối ứng đều hợp với nghi thức cung
đình, cộng với tư chất thông minh ham học hỏi rèn luyện bản thân nên được vua cha rất mực
yêu thương tin tưởng. Năm 1848 Hồng Nhậm lên ngôi vua theo di chiếu của vua cha, lấy niên
hiệu là Tự Đức – vị vua thứ 4 Triều Nguyễn và là vị vua trị vì lâu nhất trong số 13 vua, 36
năm (1848 – 1883). Theo quan niệm phong kiến con trai cả sẽ là người kế vị vua cha, điều
này được thấy rất rõ ở các vương triều Trung Hoa, nhưng với Triều đình nhà Nguyễn, đây
không phải là một nguyên tắc bắt buộc. Nếu là một con người thông minh, lanh lợi, tài trí hơn
người, được vua cha tin yêu dù là con thứ vẫn có thể được chọn làm người kế vị và vua Tự
Đức cũng vậy ông là một trường hợp như thế.
Vua Tự Đức là một người thông minh, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực như: nghệ thuật,
lịch sử, triết học, …. Ông là người có kiến thức uyên thâm về nền học vấn phương đông nhất
là nho học trong số 13 vua Triều Nguyễn.
Vua Tự Đức còn là một nhà văn, một nhà thơ lớn ông có tới 600 bài văn, 4000 bài thơ chữ
hán và hàng trăm bài thơ chữ nôm, thơ ông thể hiện tư chất của một con người thông minh, đa
cảm, yêu thiên nhiên, yêu nghệ thuật.
Hơn nữa Tự Đức còn là tấm gương của lòng hiếu thảo, tương truyền lúc sinh thời, ông định ra
ngày chẵn vấn an mẹ, ngày lẻ làm việc triều chính, điều này diễn ra đều đặn trong 36 năm ông
trị vì. Mọi điều răn dạy của mẹ – Thái Hậu Từ Dũ ông đều ghi chép cẩn thận vào một cuốn
sổ để ghi nhớ nhưng ông lại là một con người bất hiếu nhất dù có tới 103 vợ và phi nhưng ông
không có con đây chính là hậu quả của căn bệnh đậu mùa. Tội bất hiếu có lẽ là điều đau khổ
nhất trong cuộc đời nhà vua.
Tự Đức là một ông vua yếu đuối về thể chất lại thiếu tính quyết toán. Đây có thể là nguyên
nhân dẫn đến hàng loạt những thất bại trong việc điều hành đất nước, đặc biệt là làm mất 6
tỉnh Nam vào tay giặc pháp, sau đó là hàng loạt những hiệp ước như hiệp ước Qúy Mùi
(1883), hiệp ước Patenôt chia đất nước làm 3 kỳ chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp.
Trước những thất bại liên tiếp trong chính sách điều hành đất nước, cũng như những nỗi buồn
nội tại trong bản thân nhà Vua nên ông nghĩ đến việc xây dựng hành cung thứ hai của mình
làm nơi tiêu sầu và cũng đề phòng khi ra đi bất chợt.
Sau khi tìm được thế đất tốt – có nghĩa là cuộc địa hội tụ đầy đủ các nguyên tắc sơn triều thủy
tạ, tiền án, hậu chẩm, minh đường, … ở làng Dương Xuân Thượng, tổng Chánh Cư nay
thuộc xã Thủy Xuân – huyện Thượng Ba cách trung tâm thành phố Huế chừng 5 km về phía
tây và cũng không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các lăng tẫm triều Nguyễn đều xây dựng ở
phía tây, bởi quan niệm vua là Thiên Tử, kiểu trưng là hình ảnh mặt trời và khi vua băng hà,
vua và mặt trời cùng đi về phía tây, về thế giới của sự vĩnh hằng. Lăng vua Tự Đức được khởi
công xây dựng năm 1864 và hoàn thành năm 1867 với tên gọi ban đầu là “Vạn Niên Cơ” với
mơ ước lăng sẽ trường tồn mãi mãi, theo dự định công trình sẽ hoàn thành trong 6 năm với
khoảng 3000 lính và thợ, nhưng để tấn công với vua các quan giám sát xây dựng bắt dân binh
lao động cực khổ trong điều kiện rừng thiên nước độc. Nhằm rút ngắn thời gian xây dựng.
Trước sự bị bóc lột nặng nền mà dân binh vùng lên tham gia khởi nghĩa dưới sự cầm đầu của
anh em Đoàn Hữu trưng tiến về kinh thánh nhằm lật đổ vua Tự Đức hằng những công cụ lao
động đó là chày vôi . Tuy cuộc khởi nghĩa bị thất bại sau 3 ngày, nhưng thanh danh vua Tự
Đức tổn thất nặng nề, từ sự kiện này mà trong dân gian có câu:
“Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân”

Và để xóa đi những ký ức xấy trong nhân dân cái tên “Vạn niên cơ” được đổi thành Thành
Khiêm Cung, sau khi vua mất là Khiêm Lăng. Mọi công trình lớn nhỏ trong lăng đều mang
chữ Khiêm ở đây có nghĩa là kính, là nhường, điều này được vua Tự Đức giải thích trong bài
khiêm cung ký trong văn Hria mà lát nữa đoàn chúng ta sẽ ghé thăm.
Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn, chính sự sáng tạo của con người, sự kết
hợp tuyệt vời giữa kiến trúc và thiên nhiên, đã biến chốn mộ địa thành thiên đường của cỏ cây
hoa lá. Trong vòng là Thành 12 ha, gồm 50 công trình lớn nhỏ được phân bố dàn trải trên
những thế đất phức tạp. Toàn bộ lăng được phân bố trên 2 trục song song cùng lấy núi Giáng
Khiêm làm tiền án, lấy núi Dương Xuân làm hậu chuẩn, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh
đường . Nếu như khu lăng mộ được xây bằng những vật liệu bằng đá thì khu tẩm điện là
những vật liệu bằng gỗ.
Trước hết chúng ta tìm hiểu khu vực quanh hồ Lưu Khiêm. Vâng thưa quý khách, trước mặt
đoàn chúng ta, phía bên tay phải tôi là hồ Lưu Khiêm. Hồ được các nhà thiết kế lợi dụng
nguồn nước của con suối tự nhiên, đào sâu, nới rộng, nằm các thế đất mà thành. Hồ là nơi vua
dạo thuyền ngắm cảnh và cũng là nơi thả sen tạo cảnh quan. Trên giữa hồ tạo nên đảo Tịnh
Khiêm để trồng cây, người ta còn tạo nhiều hang hồ Lưu Khiêm và đảo Tịnh Khiêm là yếu tố
minh đường, tụ thủy phúc cho con cháu đời sau. Trên hồ còn mọc lên những nhà tạ đó là Dũ
Khiêm Tạ và xung khiêm Tạ. Tuy quy mô kiến trúc của các nhà tạ này không bề thế, hoành
tráng nhưng nó góp phần tạo nên sự phong phú cùng vẻ đẹp thanh thoát cho toàn bộ công
trình. Trong tổng thể kiến trúc cung đình triều Nguyễn tại Huế hình thức nhà tạ có mặt ở khắp
nơi: hoàng cung, biệt cung hay các lăng tẩm nhưng qua thời gian và chiến tranh, hiện nay ở
Huế chỉ còn vỏn vẹn 4 ngôi nhà tụ Trường Du Tạ ở cung Diên thọ (Hoàng Thành) nghênh
Lương Tạ hoang nghênh Lương Đình ở trước mặt kinh Thánh; Dũ Khiêm Tạ và Xung Khiêm
Tạ ở Lăng Tự Đức nơi chúng ta đang thăm quan.
Dũ Khiêm Tạ là ngôi nhà tạ nhỏ bé, phía trước mặt hơi chếch về phía tay trái quý khách. Nó
được xây dựng năm 1864 cùng với nhiều công trình khác trong Khiêm Lăng. Dũ Khiêm
Tạ có kết cấu khá đặt biệt, bộ khung của công trình chỉ là sự liên kếtkhá đơn giản giữa 2 bộ vì
cùng kiểu: giao nguyên, trụ đôi, đặt từ cao xuốngthấp, chia thành 3 phần trong đó 2 phần đặt
ngay dưới mặt nước.Toàn bộ phần thân nhà dễ thoáng, chỉ có 1 hàng lan can hình con tiện
thấp bao quanh 2 bên và mặt trước. Một chiếc thang gỗ đơn giản nhưng chắc chắn nối từ mặt
sàn thấp nhất cuống hồ nước làm chỗ nhà vua bước lên xuống thuyền. Cấu trúc tuy đơn giản
nhưng hiệu quả lại rất cao bởi ngôi nhà tụ này kết hợp hài hòa với cảnh trí xung quanh. Ngôi
nhà tụ lớn ở bờ đằng kia chính là Xung Khiêm Tạ, là nơi dành cho vua câu cá ngắm cảnh và
vịnh thơ. Nó lớn hơn Dũ KhiêmTạ rất nhiều với kiến trúc Trùng thiềm điệp ốc, đây là kiến
trúc phổ biến trong kiến trúc cung đình. Nhà chính (Chính đường) kiến trúc như một nhà
rường lớn nối trực tiếp với nhà trước (tiền đường) chỉ bé như 1 nhà vỏ cua thông qua 1 trụ cột
chung, phần phía trên của trụ cột này được đặt 1 máng xối mà 2 đầu đều được trang trí hình cá
chép đang há miệng nhả nước rất sinh động. Đây là lối kiến trúc và trang trí quen thuộc mà
quý vị có thể bắt gặp trong nhiều công trị.
Ở cung đình ví như quý vị có thể bắt gặp trong nhiều công trình hệ thống máng nối giữa 2 nếp
nhà đã làm cho công trình ở 2 đầu máng xối làm cho công trình trở nên đẹp hơn nữa hình ảnh
cá chép phun nước cầu mong sự xung túc no đủ, sự thành đạt, thăng hoa. Có 1 điều hết sức lý
thú, khi đứng tại cầu tháng dẫn xuống mặt nước trong 1 vài phút ta sẽ có cảm giác bồng bềnh
lắc lư như đang ngồi trên thuyền.
Nhìn chung, tuy cấu trúc đơn giản, quy mô không lớn nhưng do khéo chọn vị trí nên cả hai
nhà tạ này đã góp phần tạo nên vẻ đẹp rất hài hòa.
Hồ Lưu Khiêm cùng với Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ là một trong những cảnh đẹp
góp phần tạo chất lãng mạn trữ tình trong Khiêm Lăng
Sau khi ra khỏi khu vực hồ Lưu Khiêm, quý khách sẽ đi theo con đường lát gạch đến thăm
khu lăng mộ vua .