ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI:
Nam Bộ hôm nay là địa bàn thuộc lãnh thổ của các tỉnh Đồng Nai; Bình Dương; Bình Phước; Tây Ninh; Bà Rịa- Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Long An; Tiền Giang; Bến Tre; Vĩnh Long; Trà Vinh; Đồng Tháp; Cần Thơ; Sóc Trăng; An Giang; Kiên Giang; Bạc Liêu và Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh.
Phần đất được coi là Đông Nam Bộ có diện tích khoảng 26000km2 bao gồm phần đất đồi núi thấp (phần rìa của cao nguyên đất đỏ) và phần thềm phù sa cổ thuộc lưu vực sông Đồng Nai.
Phần đất được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng hơn 40000km2; chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long cùng một vài dãy núi thấp ở miền Tây An Giang; Kiên Giang.
Kết quả hình ảnh cho nam bộ
Miền Tây Nam Bộ
Về vị trí địa lí; Nam Bộ là vùng đất nằm ở cuối cùng đất nước về phía Nam; trọn vẹn trong lưu vực của hai dòng sông Đồng Nai và Cửu Long; mà lại là phần hạ lưu của hai dòng sông. Trong khi đó; Nam Bộ lại gần biển Đông. Nói khác đi; đây là vùng đất cửa sông giáp biển. Vị thế địa- văn hoá này của Nam Bộ tạo cho nó có những đặc điểm văn hoá riêng.
Mặt khác; khí hậu của Nam Bộ khác hẳn khí hậu Bắc Bộ ở chỗ Nam Bộ chỉ có hai mùa: mùa khô và mùa mưa; sáu tháng mùa mưa; sáu tháng mùa khô tạo cho vòng quay thiên nhiên; mùa vụ có phần khác biệt so với đồng bằng Bắc Bộ.
Nói tới Nam Bộ là người ta nói đến cánh đồng tít tắp chân trời; một khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt và vùng đất với chằng chịt kênh rạch. GS. Lê Bá Thảo đã tính Nam Bộ có tới 5700km đường kênh rạch. Sông nước ở hạ lưu chảy chậm; mang lượng phù sa lớn khác với sông nước miền Trung Bộ.
Tiến trình lịch sử của Nam Bộ có những nét khác biệt so với các địa phương khác. Nếu như Trung Bộ; Bắc Bộ là những vùng lịch sử phát triển liên tục thì Nam Bộ trong sự phát triển lịch sử lại trải qua sự đứt gãy. Sau sự biến mất của nền văn hoá Óc Eo vào cuối thế kỉ VI; vùng Nam Bộ rơi vào tình trạng hoang vu hiểm trở.
Vào thế kỉ thức VIII; Châu Đạt Quan; sứ thần của nhà Nguyên Mông đi ngang qua vùng đất này để bang giao với vương quốc Ăngco đã viết trong Chân Lạp phong thổ kí của ông như sau: “Bắt đầu từ vùng Chân Bồ (tức vùng Vũng Tàu đến Gò Công ngày nay) khắp nơi rậm rạp các dải rừng thấp xen kẽ với những dòng sông chảy dài hàng trăm dặm; các loại cây cổ thụ um tùm đan kết với các loại cây dây mây chằng chịt…
Khắp nơi vang tiếng chim hót; tiếng thú kêu…
Trên các dải đồng hoang; hàng trăm ngàn trâu rừng tụ họp thành bầy; đàn…” Cuối thế kỉ XVIII; khi miêu tả vùng đồng bằng sông Cửu Long; Lê Quý Đôn còn viết trong Phủ biên tạp lục như sau: “Ở phủ Gia Định; đất Đồng Nai; từ các cửa biển Cần Giờ; Lôi Lạp¸ cửa Đại; cửa Tiểu đi vào; toàn là rừng núi hàng ngàn dặm”. Chính vì vậy; khi cư dân Việt vào đây khai phá; họ đứng trước sự hoang vu hiểm trở của vùng đất chưa có dấu chân người như lời của một bài ca dao Nam Bộ: “ Chèo ghe sợ sấu cắn chưn. Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma”.
Người Việt đến khai phá vùng đất này vào khoảng thế kỉ XVI. Nói cách khác; với người Việt; Nam Bộ là vùng đất mới. Năm 1679; hai võ tướng của nhà Minh là Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch; do nhà Minh sụp đổ; đã mang bộ tướng; gia quyến chạy sang Đàng Trong và được chúa Nguyễn cho vào ở đất Biên Hoà và Mỹ Tho ngày nay. Cuối thế kỉ XVII; Mạc Cửu đem người Trung Quốc vào lập nghiệp ở đất Hà Tiên hiện tại; rồi quy phục chúa Nguyễn.
Người Khơme có vẻ đến vùng này khai phá sớm hơn; nhưng “sớm nhất cũng chỉ từ khoảng thế kỉ XIII; tức sau khi vương quốc Ăngco tan vỡ; và nếu đúng như vậy thì người Khơme đến khai thác vùng này cũng chỉ sớm hơn người Việt 2-3 thế kỉ” (Văn hoá và phân vùng văn hoá Việt Nam; Ngô Đức Thịnh chủ biên; Nxb Khoa học xã hội; Hà Nội.1993; trang 285). Trong số những lưu dân mới đến vùng đồng bằng sông Cửu Long có cả người Chăm. Người Chăm đến vùng An Giang; Tây Ninh muộn hơn các tộc người trước đó; mãi đến đầu thế kỉ XIX; họ mới định cư tại đây.
Tại các vùng ven đồng bằng ở Đông Nam Bộ; phần cuối của dãy Trường Sơn đổ về phía Nam; những tộc người như Mạ; Xtiêng; Chơro; Mơnông cư trú ở các vùng đồi ở đây là cư dân bản địa.
Như vậy; đồng bằng Nam Bộ về mặt cư dân có các tộc người Việt; Khơme; Chăm; Hoa; Mạ; Xtiêng; Chơro; Mơnông. Nhìn diện mạo tộc người ở đây; chúng ta dễ dàng nhận ra được ít nhất là các khía cạnh sau:
– Các tộc người khai phá Nam Bộ như Việt; Khơme; Chăm; Hoa đều là lưu dân khai phá đất mới. Họ đã xa vùng đất cội nguồn cả về không gin lẫn thời gian.
– Sống cùng một địa bàn cư trú nhưng trên nét lớn các tộc người này sống với nhau một cách hoà hợp; thân ái; không có chiến tranh giữa các sắc tộc trong lịch sử.
– Tộc người chủ thể có vai trò quyết định sự phát triển của vùng đất là người Việt.
Với người Việt; như đã trình bày ở trên; họ là những lớp cư dân từ miền Bắc; miền Trung vốn có nguồn gốc xã hội khác nhau. Một số là các tù nhân; tội đồ bị nhà nước phong kiến đưa vào khai hoang ở các đồn điền tại đây. Một số người lại là giang hồ; dân nghèo đi biệt xứ tha phương; tìm đến đây như tìm một chân trời yên ả; dễ thở hơn so với vùng đất họ từng cư trú.
Một số người lại là những quan lại; binh lính được đưa vào đây để khai phá vùng đất mới rồi họ ở lại. Dù khởi nguyên; gốc gác họ thuộc nguồn nào; hành trang mà họ mang theo không chỉ có vật dụng; tư liệu sản xuất; vợ con…mà còn là vốn văn hoá ẩn trong tiềm thức. Vốn văn hoá này của vùng châu thổ Bắc Bộ; được làm giàu ở “khu năm rằng rặc khúc ruột miền Trung” và được đêm vào châu thổ sông Cửu Long.
Nét đáng lưu ý khi xem xét môi trường xã hội ở đây là làng Việt Nam Bộ có những nét khu biệt khi đặt trong tương quan với làng Việt Nam Bộ. Có thể thấy một cách sơ khởi những nét đặc thù ấy như sau: Trước hết tuổi đời làng Việt Nam Bộ còn ngắn; chừng 400 năm là cùng. Khác với làng Việt Bắc Bộ vốn có gốc gác là các công xã nông thôn; làng Việt Nam Bộ là làng khai phá.
Cư dân từ nhiều nguồn; nhiều phương trời hội tụ lại; vì thế làng Việt Nam Bộ sẽ không có chất kết dính chặt chẽ; quan hệ dòng họ sẽ khác với chính nó ở đồng bằng Bắc Bộ. Mặt khác; sự cư trú của cư dân Nam Bộ không thành một đơn vị biệt lập với rặng tre quanh làng như đồng bằng Bắc Bộ mà cư trú theo tuyến; theo kiểu toả tia dọc theo hai bên bờ kinh rạch; trục lộ giao thông.
Cuối cùng; quan hệ sở hữu ruộng đất trong làng Việt Nam Bộ có sự phân cực rất cao. Tỉ lệ giữa một số người có trong tay nhiều đất với đa số rất nhiều người có trong tay ít đất khác chênh lệch.
Tiến trình lịch sử Nam Bộ lại có đặc điểm riêng. Quá trình khai phá nơi này; từ cuối thế kỉ XVI cho đến năm 1862; thực ra so với lịch sử chưa được là bao. Làng xã; cũng như nhiều phương diện khác nhau chưa ổn định thì năm 1862 Nam Bộ lại là nơi đầu tiên chịu ảnh hưởng thống trị của thực dân Pháp với tư cách là vùng thuộc địa của người Pháp.
Cuộc tiếp xúc giữa hai nền văn hoá Việt- Pháp diễn ra ở Nam Bộ trong một hoàn cảnh đặc biệt. Nền vă hoá Pháp; vốn có nhiều nét khác biệt so với nền văn hoá Việt cũng như của các tộc người khác ở đây. Nam Bộ trở thành thuộc địa của Pháp tới năm 1945. Từ năm 1945 đến năm 1975; Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm hết Pháp rồi lại Mĩ.
Sau năm 1975; đất nước thống nhất; Nam Bộ trở thành nơi đi trước về sau; như lời chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong sự nghiệp giải phóng dân tộc là như thế.
Với tất cả những đặc điểm có tính chất tiêu biểu về tự nhiên; lịch sử; xã hội như vậy; văn hoá Nam Bộ tất sẽ có những đặc điểm riêng.

ĐẶC ĐIỂM VĂN HOÁ
Nói đến nền văn hoá Nam Bộ là nói đến văn hoá của các tộc người ở đây. Ngoại trừ các tộc người sống ở ven đồng bằng miền đông; các tộc người Việt; Khơme; Chăm; Hoa đều không phải là cư dân bản địa ở đây. Vì vậy; văn hoá của họ là văn hoá ở vùng đất mới.
Gần như là một quy luật; văn hoá của lưu dân vùng đất mới dù là của tộc người nào cũng đều là sự kết hợp giữa truyền thống văn hoá trong tiềm thức; trong dòng máu và điều kiện tự nhiên; lịch sử của vùng đất mới; nó phát triển trong điều kiện cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian.
Nói khác đi là; những loài cây quen thuộc của vùng đất cũ được đem cấy trồng ở vùng đất mới. Cho nên; văn hoá ở vùng đất này; vừa có nét giống; lại vừa có nét khác với nền văn hoá ở vùng đất cội nguồn; của cùng một tộc người.
Đặc điểm thứ hai của vùng văn hoá Nam Bộ là quá trình giao lưu văn hoá diễn ra với một tốc độ mau lẹ. Thực ra; nếu xét một cách nghiêm ngặt về lịch sử; vùng đất này mới có tuổi đời chừng 300 năm. Thế nhưng trong một khoảng thời gian rất ngắn ấy; văn hoá Nam Bộ đã định hình rõ những đặc trưng vùng của mình. Nhiều nhân tố tạo ra điều này; nhưng không thể không thừa nhận tác động của quá trình tiếp biến văn hoá. Sự tiếp biến xảy ra trước hết giữa các tộc người cùng sinh sống trong một địa bàn.
Hình ảnh có liên quan
Một người dân Nam Bộ trong đầm sen
Xin đơn cử người Việt cùng chung sống với người Khơme; người Việt đã tiếp thu chiếc bếp cà ràn dùng cho việc nấu ăn trên đất ẩm; dùng nồi gốm chrăng để kho cá; nấu cơm; dùng cà om để đựng nước uống; nước mắm. Hoặc nhiều món ăn của người Việt hiện tại thực ra là tiếp thu của người Khơme như món canh chua; món bún Bạc Liêu… Rõ nhất của quá trình tiếp biến này là hiện tượng sử dụng song ngữ; đa ngữ trong vùng. Vốn từ của các dân tộc được vay mượn như người Việt vay mượn vốn từ của người Hoa; Khơme và ngược lại. Thậm chí những câu nói; câu hát bình dân có sự pha tạp giữa các ngôn ngữ khác nhau.
Trong giai đoạn từ 1858 đến 1945 quá trình tiếp biến văn hoá còn diễn ra với tốc độ mau lẹ hơn trước. Sự giao lưu văn hoá Việt – Pháp dù là cưỡng bức nó vẫn xảy ra; chữ Quốc ngữ được ươm mầm và phát triển ở Nam Bộ. Báo chí bằng chữ Quốc ngữ cũng ra đời đầu tiên ở Nam Bộ; các kiểu dáng kiến trúc phương Tây được du nhập vào Sài Gòn.
Điều đáng chú ý là người Việt đã rất nhanh chóng tiếp thu những yếu tố văn hoá này. Chẳng hạn; ở cuối thế kỉ XIX; bằng tấm lòng yêu nước; nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã không cho con mình học chữ tân trào – chữ Quốc ngữ thì ở nửa đầu XX; con gái nhà thơ; nữ sĩ Sương Nguyệt Anh cũng như nhiều tri thức Nam Bộ đã nhận ra giá trị của chữ Quốc ngữ và báo chí bằng chữ Quốc ngữ; nên đã làm chủ bút tờ báo Nữ giới chung; dùng nó làm tiếng chuông thức tỉnh nữ giới.
Chính vì sớm tiếp nhận văn hoá phương Tây; văn hoá mĩ; nên văn hoá Nam Bộ sẽ có những đặc điểm mà vùng khác không có. Nói cách khác; quá trình tiếp biến văn hoá diễn ra ở Nam Bộ với một tốc độ mau lẹ đã khiến cho vùng Nam Bộ có những đặc điểm này.
Mặt khác; Nam Bộ là vùng có nhiều tôn giáo tín ngưỡng cùng đan xen tồn tại. Nói khác đi là diện mạo tôn giáo tín ngưỡng Nam Bộ khá đa dạng và phức tạp. Ngoài các tôn giáo lớn ở ngoài du nhập vào như Phật giáo; Công giáo; Tin lành; Hồi giáo; Nam Bộ còn là quê hương của tôn giáo tín ngưỡng địa phương như Cao đài; Hoà hảo; như các ông đạo; các tín ngưỡng dân gian như thờ Tổ tiên; Thổ thần; thờ Thàng hoàng; thờ Mẫu; thờ Neaktà; Arăk…
Bản thân từng tôn giáo ở Nam Bộ cũng khá đa dạng. Bên cạnh Phật giáo Tiểu thừa lại có Phật giáo Đại thừa. Với các tín ngưỡng dân gian; điều kiện lịch sử tự nhiên vùng đất mới đã khiến nó có những nét khác biệt ; tuy rằng chúng đi ra từ một nguồn cội là đồng bằng Bắc Bộ. Xin đơn cử tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ đã có những nét khác biệt; điện thần phong phú hơn; nghi lễ thờ cúng cũng có sự khác biệt. Hiện tượng các ông đạo như đạo Ngồi; đạo Nằm; đạo đi Chậm; đạo Câm; đạo Dừa;… có thể coi như một hình tượng riêng biệt của tôn giáo tín ngưỡng Nam Bộ. Các ông đạo có thể có nguồn gốc khác nhau; có người có chút ít điền sản; có người lại không có tấc đất cắm dùi.
Biểu hiện đạo của từng ông không giống nhau; có ông chỉ ngồi; có ông chỉ nằm; có ông nói những câu khó hiểu;… nhưng các ông đều có sự thống nhất. Đó là từ cuộc sống bình thường của người nông dân; họ chuyển qua cuộc sống của các ông đạo với những biểu hiện không bình thường. Trong khi đó; những người nông dân xung quanh không lấy các biểu hiện không bình thường đó để đùa cợt hay báng bổ; ngược lại họ cho đó là bình thường. Một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến hiện tượng này và họ cho rằng có một sự hẫng hụt tâm lí của người dân trong vùngvà một thứ chủ nghĩa tiên tri tồn tại ở Nam Bộ.
Khiá cạnh đáng lưu ý của tôn giáo tín ngưỡng Nam Bộ là sự phát triển của các phong trào tôn giáo cứu thế như Bửu Sơn Kì Hương; Tứ Ân Hiếu Nghĩa; Thiên địa hội. Sự ra đời của các phong trào tôn giáo cứu thế này gắn liền với phong trào nổi dậy của người dân trong vùng chống phong kiến và đế quốc. Người dân đã gửi gắm lòng mong ước về sự xuất hiện của người cầm đầu; người lãnh đạo; có thể lãnh đạo họ chống áp bức; chống ngoại lai; chống Pháp. Vì vậy; tôn giáo tín ngường Nam Bộ có sự phức tạp hơn so với các vùng văn hoá khác. Chính điều này là đặc điểm thứ ba của vùng văn hoá Nam Bộ.
Trong ứng xử với thiên nhiên; các tộc người ở Nam Bộ cũng có những nét khác biệt so với vùng văn hoá khác. Dù là người Việt; Khơme; Chăm hay Hoa khi tới vùng này sinh sống; họ đều đứng trước một thiên nhiên vừa có phần lạ lẫm; vừa có phần huyền bí. Ứng xử với thiên nhiên của người Việt có thể coi là thái độ tiêu biểu nhất. Khác với đồng bằng sông Hồng; Nam Bộ dù có tới 4900km kênh đào; dù có hai dòng sông lớn vẫn không hề có một km đê nào. Dựa theo chế độ thuỷ triều; hệ thống thuỷ lợi đưa nước ngọt từ sông lớn vào sông nhỏ; vào kênh rạch rồi lên mương; lên vườn.
Nghĩa là một thái độ ứng xử hoàn toàn khác với Bắc Bộ. Thái độ ứng xử với thiên nhiên còn thể hiện qua việc ăn và mặc. PGS; TS. Ngô Đức Thịnh từng nhận xét: “món ăn Nam Bộ là sản phẩm độc đáo của vùng đất mới; là kết quả của sự giao tiếp với nhiều dân tộc; với các làng văn hoá Đông Tây”. Cội nguồn của vấn đề vẫn là một thái độ ứng xử với thiên nhiên.
Trước hết; cơ cấu bữa ăn người Việt Nam Bộ có sự thay đổi. Nếu ở đồng bằng Bắc Bộ mô hình bữa ăn đó là cơm + rau + cá thì ở Nam Bộ; tương quan giữa các thành phần có sự thay đổi. Nguồn tài nguyên thuỷ sản ở Nam Bộ đạt tới sự sung túc; phong phú hơn tất cả mọi vùng trên đất nước ta.
Vì thế; sử dụng nguồn đạm thuỷ sản trong bữa ăn người Việt có chú trọng hơn. Các món ăn chế biến từ thuỷ sản cũng nhiều về số lượng; phong phú về chất lượng so với các nơi khác. Và người Việt sử dụng các món ăn từ hải sản cũng nhiều hơn hơn so với cư dân Bắc Bộ.
Mặt khác; thiên hướng trong cơ cấu bữa ăn của người Việt là nghiêng về chọn món ăn có tác dụng giải nhiệt. Dừa và các món ăn được chế biến từ dừa chiếm vị thế quan trọng trong các món ăn chính là bắt nguồn từ khía cạnh này. Các loại nước giải khát như nước dừa; nước quả được ưa thích. Trà dùng để giải khát; chứ không để thưởng thức như ở Bắc Bộ. Vì vậy; sự thay đổi trong thái độ ứng xử với thiên nhiên của người Việt cũng như các tộc người khác ở đây là một đặc điểm của văn hoá vùng Nam Bộ.
Đặc điểm cuối cùng không thể không nhắc tới là sự phát triển của dòng văn hoá bác học; nhất là của người Việt ở đây.
Từ giữa thế kỉ XVIII; Gia Định đã có những trường học nổi tiếng như trường Hoà Hưng của nhà giáo ưu tú Võ Trường Toản. Người thầy giáo lớn của Nam Bộ đã đào tạo được nhiều người tài danh như Ngô Tòng Châu; Lê Quang Định; Trịnh Hoài Đức; Ngô Nhân Tịnh. Năm Gia Long thứ 12 (1813); khoa thi Hương đầu tiên được tổ chức tại Gia Định; năm 1862; khoa thi Hương cuối cùng được tổ chức tại An Giang. Như vậy; trong 49 năm; trường thi Gia Định có 22 khoa thi; tuyển chọn được 296 cử nhân; trong đó có những người ra kinh thi tiến sĩ và được lấy đỗ năm người.
Như vậy; đội ngũ tri thức nho học đã xuất hiện ở Nam Bộ. Một số văn đàn; thi xã đã xuất hiện như Tao đàn Chiêu Anh Các; Bình Dương thi xã; Bạch Mai thi xã. Nửa sau thế kỉ XIX; các tác giả Nam Bộ đã đóng góp quan trọng bằng văn chương vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc như Nguyễn Đình Chiểu; Phan Văn Trị; Bùi Hữu Nghĩa; Hồ Huân Nghiệp. Sau khi chiếm đóng Nam Kì; người Pháp bãi bỏ chế độ giáo dục bằng chữ Hán; mở các trường học Pháp Việt ở Sài Gòn; sau đó ở các tỉnh; các huyện khác.
Chữ Quốc ngữ; chữ Pháp thay thế chữ Nôm; chữ Hán trong nhà trường. Chữ Quốc ngữ rất nhanh chóng trở thành công cụ truyền tải văn hoá Nam Bộ thay cho chữ Nôm. Tầng lớp tri thức mới xuất hiện ở Nam Bộ; và chính họ thúc đẩy quá trình thay đổi chữ viết của văn hoá Nam Bộ; Việt Nam những năm này. Đó là việc dùng chữ Quốc ngữ để làm báo như Sương Nguyệt Anh (báo Nữ giới chung); Lê Hoàng Mưu (báo Lục tỉnh tân văn);…; dùng chữ Quốc ngữ để sưu tầm; nghiên cứu như Trương Vĩnh Ký; để sáng tác như Trương Duy Toàn; Hồ Biểu Chánh; Lê Hoàng Mưu; Nguyễn Văn Vĩnh… Có thể nói; văn học viết bằng chữ Quốc ngữ đã đi những bước ban đầu với những tác giả này.
Nói cách khác; phải ghi công cho tầng lớp tri thức mới này ở Nam Bộ. Hơn nữa; trong số họ không phải không có người có ý thức dân tộc; dùng văn chương báo chí như một thứ vũ khí để thức tỉnh dân tộc; đứng lên đấu tranh đòi giải phóng đất nước. Những bài báo của Sương Nguyệt Ánh trên báo Nữ giới chung; Nguyễn Dư Hoài in ở Nông cổ mín đàm chính là minh chứng cho điều ấy.
Cũng vào đầu thế kỉ XX; những trường trung cấp kĩ thuật; trường dạy nghề đã được người Pháp mở ở Sài Gòn. Khoảng những năm 40 của thế kỉ XX; người Pháp có tổ chức ở Sài Gòn một số cơ sở nghiên cứu khoa học và văn hoá; sau Hà Nội;ốài Gòn là một trung tâm lớn.
Từ năm 1954 đến năm 1975; Nam Bộ lại vào giai đoạn giao lưu văn hoá với văn hoá Mỹ. Trong 21 năm ấy; một số trường đại học; một số cơ sở nghiên cứu khoa học đã được xây dựng ở Sài Gòn và Cần Thơ. Tầng lớp tri thức trong giai đoạn này đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của đất nước.
Từ sau năm 1975; Nam Bộ lại là một vùng đang phát triển về mọi mặt; văn hoá phát triển khá nhanh với sự xuất hiện của hàng loạt các trường đại học; các cơ quan nghiên cứu;… Dòng văn hoá bác học ở Nam Bộ từ khi người Việt vào đây lập nghiệp cho đến nay quả là một nhân tố quan trọng trong tiến trình văn hoá của vùng và góp phần rất đáng kể vào diễn trình lịch sử của văn hoá Việt Nam.
Tóm lại; văn hoá Nam Bộ có nhiều nét riêng so với vùng khác. Vùng đất vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của văn hoá Việt Nam; lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc người ở đây. Vị thế địa chính trị; địa văn hoá của Nam Bộ khiến nó trở thành trung tâm mà quá trình tiếp biến văn hoá diễn ra nhanh chóng cả về bề mặt lẫn bề sâu; cả về lượng và chất; tạo cho vùng văn hoá Nam Bộ có những đặc thù riêng và trở thành một gương mặt riêng khó lẫn trong diện mạo các vùng văn hoá ở nước ta.
Theo Yến Lê