KHƯƠNG NINH CÁC. MỘT DI TÍCH LỊCH SỬ - TÔN GIÁO ĐỘC ĐÁO

KHƯƠNG NINH CÁC. MỘT DI TÍCH LỊCH SỬ - TÔN GIÁO ĐỘC ĐÁO
Lời người viết: Trong bài viết XUNG QUANH NGHI VẤN “VUA TỰ ĐỨC LÀ CON CỦA AI?” mà tôi tổng thuật từ cuốn sách BỨC MẬT THƯ ĐẤT - NƯỚC - GIÓ - LỬA TRONG THƯƠNG SƠN THI TẬP của tác giả Trần Như Thổ (Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2005), có nhắc đến một công trình kiến trúc trong Hoàng Thành Huế - KHƯƠNG NINH CÁC - được Trần Như Thổ coi là nơi khởi nguồn của nghi vấn trên.
Vì công trình này khá khiêm tốn, lại ẩn dật ở phía tây Diên Thọ Cung nên ít người biết đến, nên trong mấy ngày qua có một số bằng hữu nhắn tin hỏi: Khương Ninh Các ở đâu? Công trình này nay có còn không?
Tôi xin trả lời quý bằng hữu bằng bài viết sau đây, đã in trong cuốn HUẾ - TRIỀU NGUYỄN MỘT CÁI NHÌN (Nxb Thế Giới và Cty Sách Omega Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 2018, tr. 207-217)
TRẦN ĐỨC ANH SƠN
Diên Thọ Cung trong Hoàng Thành Huế được xây dựng từ đầu triều Gia Long (vào năm 1803) làm nơi ăn ở của các bà hoàng thái hậu, hoàng thái phi của triều Nguyễn. Dưới các triều vua: Minh Mạng (1820 - 1841), Tự Đức (1848 - 1883), Thành Thái (1889 - 1907), Khải Định (1916 - 1925), Diên Thọ Cung đã được tu sửa, mở mang thành một hệ thống cung điện hoàn chỉnh, gồm nhiều công trình kiến trúc, phục vụ cho nhu cầu ăn ở, sinh hoạt, tiếp tân, nghỉ dưỡng... của các bà trong cung, như: chính điện Diên Thọ là nơi ở của hoàng thái hậu; Thọ Ninh Điện là nơi ở của các hoàng thái phi, mẹ thứ của vua; Tả Trà là nơi các bà tiếp khách; Trường Du Tạ là nơi các bà đến thưởng ngoạn...
Vào năm Minh Mạng thứ 11 (1830), vua Minh Mạng đã cho xây dựng ở góc tây bắc Diên Thọ Cung một công trình kiến trúc bằng gỗ hai tầng, đặt tên là Khương Ninh Các. Đây là nơi thờ cúng các vị thần, Phật đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của các bà thái hậu, thái phi ở trong cung. Việc xây dựng Khương Ninh Các trong Diên Thọ Cung có ý nghĩa tương tự như việc triều Nguyễn đã cho dựng Nhật Thành Lâu (bên trong Tử Cấm Thành) và chùa Giác Hoàng (bên trong Kinh Thành) trước đó để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng của vua và hoàng gia.
Tầng trên Khương Ninh Các là nơi phụng thờ chư Phật, các vị thần linh của nhiều tôn giáo khác nhau, cùng một số công chúa và phi tần triều Nguyễn, trong khi tầng dưới lại là nơi tá túc cuối đời của các bà. Chính điều này đã tạo nên sự độc đáo của di tích này: tuy chỉ là một công trình kiến trúc khiêm tốn nhưng Khương Ninh Các lại đảm nhận nhiều chức năng khác nhau: vừa là nơi thờ cúng, vừa là nơi trú tất: vừa là nơi thờ Phật, đồng thời, cũng là nơi thờ thánh.
Tuy Khương Ninh Các được xây dựng vào năm 1830, nhưng tiền đề cho sự ra đời của di tích này đã được manh nha từ triều Gia Long (1802 - 1820) và có liên quan đến bà Nguyễn Thị Hoàn, thân mẫu của vua Gia Long. Là một Phật tử nhiệt thành, thân mẫu của vua Gia Long tin rằng nhờ Trời, Phật phù hộ, nhà vua mới dựng được cơ đồ và thâu phục thiên hạ. Vì thế, bà thành tâm quy y và chăm lo chuyện Phật sự ở trong hậu cung triều Nguyễn.
Vua Gia Long là một người rất có hiếu với mẹ. Sau khi xây dựng xong kinh đô, nhà vua đã cho đón mẹ vào sống trong Hoàng Thành Huế. Vì là người tin sùng đạo Phật, nên thái hậu mong muốn trong cung phải có nơi để bà thờ Phật. Mặc dù vua Gia Long là theo Nho giáo, dùng Nho giáo làm kế sách và khuôn phép để trị nước, nhưng ông lại chịu ảnh hưởng sùng tín đạo Phật từ thân mẫu của mình và từ ái phi Trần Thị Đang (mẹ vua Minh Mạng). Sự sùng tín Phật giáo của các bà này còn ảnh hưởng đến thái độ ứng xử với Phật giáo của các vua Minh Mạng và Thiệu Trị sau này. Vì thế, nhu cầu phải kiến tạo một nơi thờ Phật ở ngay trong hoàng cung, nhằm phục vụ tín ngưỡng của các thái hậu, thái phi và các phi tần... trong cung là chính đáng và cần thiết.
Ngoài ra, vì lý do phong thủy, nên khi quy hoạch và kiến tạo Kinh Thành Huế, vua Gia Long đã tạo cho cuộc đất này một thế đất “cán thủy thành hoàn” (nước bọc quanh thành) bằng việc cho đào hệ thống “hộ thành hà” vây quanh Kinh Thành. Điều này vô tình tạo ra sự ngăn cách giữa Kinh Thành với các vùng phụ cận; đồng thời, khiến cho “con đường hành hương” của các bà từ hoàng cung lên chùa Thiên Mụ bị ngăn trở bởi sông Kim Long (trước đó) và sông Kẻ Vạn (sau này). Thêm vào đó, việc kiến thiết Kinh Thành trong thời gian quá dài (27 năm), càng làm cho việc đi chùa lễ Phật của các bà trong cung thêm phần gian khó, trong khi, các bà lại tuổi cao sức yếu, nên khó có thể thường xuyên đi lên tận chùa Thiên Mụ để cúng Phật và hành lễ. Yêu cầu bức thiết lúc bấy giờ là cần phải có một nơi thờ Phật để các bà có thể thực thi tín ngưỡng và chăm lo Phật sự. Chính vì thế mà một ngôi chùa thờ Phật, mang tên Khương Ninh Các, đã được vua Minh Mạng cho xây dựng ngay trong Hoàng Thành vào năm 1830.
Tuy nhiên, Khương Ninh Các không chỉ là nơi thờ Phật đơn thuần mà còn là nơi thờ cúng các vị thần linh của nhiều tôn giáo khác nhau, phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng rất đa đạng của các bà thái hậu, thái phi.
Bấy giờ ở Huế tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau. Tuy nhiên Phật Giáo và Thiên Tiên Thánh Giáo đã có một chỗ đứng khá vững chắc trong đời sống tín ngưỡng bên trong cung cấm. Bởi thế, Khương Ninh Các đã trở thành nơi thờ tự chư vị Phật, chư vị Thánh Mẫu với hai tên gọi khác nhau: 康寧閣 (Khương Ninh Các) ở mặt trước và 福壽庵 (Phước Thọ Am) ở mặt sau. Cả hai tên gọi này đều thể hiện ước mong có được niềm vui, phúc lành và những điều tốt đẹp. Trong tên gọi 康寧閣, thì chữ 康 (khương) có nghĩa thịnh vượng, yên vui, còn chữ 寧 (ninh) có nghĩa là yên ổn. Vậy 康寧閣 có nghĩa là tòa lầu (của/cầu) thịnh vượng, yên ổn.
Trong khi đó, mặt sau tòa lầu lại có bức hoành phi đề ba chữ 福壽庵 (Phước Thọ Am). 庵 (Am) có nghĩa là ngôi nhà nhỏ bằng tranh, nhưng cũng có nghĩa là nơi thờ Phật. Nói cách khác, am cũng là chùa. Nhưng hai chữ 福壽 (Phước Thọ) là thuộc về trần gian, không phải chữ nghĩa của nhà Phật. Hơn nữa, trong Phước Thọ Am không thờ Phật, mà chỉ thờ vong linh của những người đã khuất trong hoàng gia triều Nguyễn.
Như vậy, Khương Ninh Các - Phước Thọ Am là một công trình đặc biệt và độc đáo trong lịch sử kiến trúc triều Nguyễn với hai tên gọi và nhiều công năng khác nhau; cùng tô sùng, thờ tự hai hệ thống thần linh thuộc hai tôn giáo khác nhau.
Việc tôn sùng không chỉ một tôn giáo, một hệ thống thần linh là một đặc trưng trong tín ngưỡng đương thời. Cùng lúc, họ tin và tôn sùng nhiều tôn giáo và nhiều vị thần linh khác nhau. Đặc biệt, trong bối cảnh bấy giờ, Phật giáo và Thiên Tiên thánh giáo đều có ảnh hưởng rất lớn và vững chắc trong hoàng gia triều Nguyễn cũng như trong đại bộ phận người dân xứ Huế. Việc cùng lúc tôn sùng hai tôn giáo này đã đưa đến hệ quả tất yếu là nhất thiết phải lập điện thờ Phật, Bồ tát... cùng chư vị Thánh Mẫu ngay trong Hoàng Thành. Vô hình trung, Khương Ninh Các trở thành nơi dung hòa và kết hợp giữa Phật giáo và Thiên Tiên thánh giáo trong đời sống tinh thần của hoàng gia triều Nguyễn. Điều này giải thích vì sao chỉ một tòa các khiêm tốn làm bằng gỗ mà lại có đến hai tên gọi Khương Ninh Các và Phước Thọ Am, cùng đảm nhiệm hai chức năng và thể hiện niềm tin vào hai tôn giáo khác nhau.
Về cấu trúc, Khương Ninh Các là một tòa lầu hai tầng bằng gỗ, kiến trúc cân đối và xinh xắn. Toàn bộ kiến trúc nằm trong một khuôn viên độc lập, được ngăn cách với “thế giới trần tục” bằng một vòng tường khép kín, nhằm tạo ra một thế giới thanh tịnh, siêu thoát bên trong chốn cung cấm u hoài. Tòa nhà chính quay mặt về phía tây. Tầng dưới cùng làm nơi ăn ở, sinh hoạt của các bà lớn tuổi đã quy y hoặc xuất gia tu Phật. Tầng trên chia làm hai phần: phía trước được trần thiết lộng lẫy, có đầy đủ cờ phướn, khám thờ, tranh tượng, bài vị... với năm gian thờ: gian chánh trung thờ ba pho tượng Phật: A Di Đà, Thích Ca và Di Lặc cùng các vị: Dược Sư, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát...; gian tả nhất thờ Quan Công, có Quan Bình và Châu Xương phò tá hai bên cùng với ngựa Xích Thố, long đao...; gian hữu nhất thờ tượng Phật A Di Đà, cùng các tượng: Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát dưới dạng tranh thờ; các gian tả nhị và hữu nhị, mỗi gian thờ tượng và bài vị của sáu vị Hộ Pháp trong Thập Nhị Dược Xoa đại tướng... Đặc biệt, bộ tượng Tam Thế Phật gồm ba pho, do vua Minh Mạng cho đúc vào năm 1831, được giới nghiên cứu mỹ thuật nhìn nhận là một trong những bộ tượng Phật đẹp nhất thời Nguyễn. Tượng đúc bằng gang, mạ vàng. Phía sau mỗi pho tượng đều có khắc bài minh ngự chế của vua Minh Mạng và lạc khoản đề năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Bộ tượng Phật này đã được đưa đi trưng bày trong cuộc triển lãm mang tên Vietnam: Art et Cultures de la préhistoire jusqu’ à nos jours (Việt Nam: Nghệ thuật và văn hóa từ thời tiền sử đến ngày nay) do Bảo tàng Lịch sử và Nghệ thuật Hoàng gia Bỉ tổ chức tại Bruxelles từ ngày 17.9.2003 đến ngày 29.2.2004. Sau đó, bộ tượng Phật này tiếp tục được trưng bày trong cuộc triển lãm: Vietnam: Götter - Helden - Ahnen (Việt Nam: Thần linh - Anh hùng - Tổ tiên) do Bảo tàng Dân tộc học Vienna tổ chức ở thành phố Leoben (Áo) từ ngày 02.4 đến ngày 1.11.2004.
Phần phía sau của tầng trên cũng có năm gian thờ, phía trên gian giữa có treo bức hoành phi chạm nổi ba chữ Hán: 福壽庵 (Phước Thọ Am), phía dưới thờ tranh và bài vị của Thiên Y A Na Thánh Mẫu; hai bên là bàn thờ các thần thánh thuộc hàng đồ đệ của Mẫu; bài vị của Diên Phúc công chúa, Mỹ Tường công chúa, Cô Hoàng Nữ Đệ Tam... Họ là những chị và cô của vua Gia Long. Đặc biệt, ở đây còn thờ hai tượng Tổ của nghề hát bội. Đây là chi tiết thú vị và khác biệt so với những di tích thờ phụng khác mà các vua nhà Nguyễn đã cho xây cất trong và ngoài Hoàng Thành Huế.
Theo Thái Văn Kiểm trong cuốn Cố đô Huế, thì các bà Thuận Thiên Cao hoàng hậu (mẹ vua Minh Mạng), Nghi Thiên Chương hoàng hậu (mẹ vua Tự Đức), Phụ Thiện Thuần hoàng hậu (mẹ vua Đồng Khánh), Đoan Huy hoàng thái hậu (mẹ vua Bảo Đại)... đều từng sống trong Diên Thọ Cung. Khương Ninh Các đã trở thành nơi lui tới thường xuyên của các bà trong các dịp lễ tế, sóc vọng... để cúng kiến, cầu đảo. Vì thế trong những lần tu sửa Diên Thọ Cung, các vua nhà Nguyễn đều chú ý trùng tu, tôn tạo Khương Ninh Các, phục vụ nhu cầu lễ bái, tín ngưỡng của các bà mẹ mình.
Với hai tên gọi cho cùng một công trình, hai tôn giáo được tôn sùng trong một nơi thờ tự, Khương Ninh Các là nơi duy nhất trong các công trình kiến trúc Nguyễn có tên gọi và chức năng lạ lùng như thế. Chúng ta đã biết đến sự dung hòa khá nhuần nhuyễn trong lịch sử tư tưởng thời Nguyễn, sự dung hòa giữa Nho - Phật - Lão. Với Khương Ninh Các, chúng ta còn biết thêm sự kết hợp tín ngưỡng giữa Phật giáo và Thiên Tiên thánh giáo trong đời sống tinh thần của hoàng gia triều Nguyễn. Mặt khác, những vấn đề thú vị về nghệ thuật trang trí, cách thiết trí thờ tự và những vấn đề lịch sử được lưu giữ nơi đây càng khiến di tích này có một giá trị văn hóa - lịch sử đáng trân trọng và gìn giữ. Đến thăm Khương Ninh Các, du khách bắt gặp ở đây những dấu vết lịch sử của các triều vua Minh Mạng, Tự Đức và Khải Định qua các chi tiết kiến trúc, qua hiện vật và đồ tự khí. Vẫn còn đó những bộ vì kèo “cánh ác” một thời phổ biến ở những kiến trúc đầu thời Nguyễn, những lan can với chấn song chạm trổ kiểu con tiện như ở các lăng Tự Đức, Đồng Khánh, hay những cửa sổ ghép kính màu theo “phong cách Khải Định”...
Tất cả đã góp phần tạo nên nét riêng biệt và độc đáo cho di tích Khương Ninh Các và cho cả khu vực Diên Thọ Cung.
T.Đ.A.S.
Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, cây và ngoài trời
Khương Ninh Các nhìn từ phía đông nam. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn
Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, nhà và ngoài trời
Tòa Khương Ninh Các - Phước Thọ Am. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn
Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời
Nguyệt môn tư Diên Thọ Cung dẫn vào Phước Thọ Am. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn
Trong hình ảnh có thể có: 2 người
Bộ tượng Tam Thế Phật đúc vào triều Minh Mạng đang thờ trong Khương Ninh Các. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn